|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày: 02/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Chùm, ông Đinh Công Danh và ông Huỳnh Công Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng và ông Lê Trung Nghĩa – Đều là Kiểm sát viên Trung cấp.
Vào ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Thị Bích L
sinh ngày 07/01/1986; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Đỗ Tấn L1, sinh năm 1939 và bà Trần Thị P, sinh năm 1953; có chồng Nguyễn Văn M, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 13/01/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo Đỗ Thị Bích L: Ông Lê Gia V – Luật sư, Công ty TNHH MTV P1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P; Cộng tác viên do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P cử; có mặt.
- Các bị hại:
- Nguyễn Thị Liên K, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn B, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Trần Thị Thanh T, sinh năm 1979 Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Nguyễn Thị Ánh T1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Khu phố E, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Lê Thị T2, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Trần Thị Diễm M1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Nguyễn Thị Như B, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Lê Thị Hồng L2, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngô Ngọc K1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Võ Thị Công V1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Phạm Thị C1, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Nguyễn Văn M, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Võ Thị Thanh D, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Đỗ Thị Bích L3, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Đỗ Thị Bích L4, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Khu phố E, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thị Bích L không có nghề nghiệp ổn định đã vay, mượn tiền nhiều người, đến tháng 3/2020 thì mất khả năng trả nợ. Từ tháng 3/2020, L đưa ra thông tin gian dối cần tiền buôn bán hạt đác, hạt ươi để vay tiền nhiều người rồi sử dụng số tiền này trả nợ, tiêu xài cá nhân, lấy tiền vay của người sau trả gốc, lãi cho người đã vay trước. Đến tháng 6/2020, L nợ nhiều người với số tiền lớn, để có thể chiếm đoạt số tiền lớn hơn, L tiếp tục đưa ra thông tin gian dối như trên, tiếp tục vay tiền của người khác hoặc rủ người khác góp vốn rồi sử dụng trả nợ, tiêu xài cá nhân. Để tạo lòng tin, L sử dụng những thủ đoạn gian dối như: thường xuyên nói là mình đang buôn bán hạt đác, hạt ươi số lượng lớn, kinh doanh với nhiều người khác nhau ở các tỉnh Bình Thuận, Quảng Ngãi, Khánh Hòa; đưa ra mức lợi nhuận cao như góp vốn 100.000.000 đồng thì sau mỗi chuyến hàng khoảng 10 - 15 ngày sẽ thu được khoảng 8.000.000 đồng - 8.500.000 đồng lợi nhuận; mua các sim điện thoại có số khác nhau giả làm người buôn bán hạt đác, hạt ươi với L rồi chụp hình tin nhắn gửi cho bị hại; thỉnh thoảng mua một ít hạt đác làm quà cho bị hại, nói là đác của L buôn bán. L không buôn bán hạt đác, hạt ươi mà chiếm đoạt tiền của người này trả cho người kia và tiêu xài cá nhân.
Với thủ đoạn nêu trên, từ tháng 6/2020 đến tháng 12/2021, L đã chiếm đoạt của 08 người, tổng số tiền 6.376.833.333 đồng, cụ thể:
- - Từ tháng 5/2021 đến tháng 9/2021, L đã vay của chị Nguyễn Thị Liên K, 06 lần với tổng số tiền 980.000.000 đồng, đã trả cho chị K số tiền gốc là 129.166.667 đồng và số tiền lãi là 71.333.333 đồng, chiếm đoạt của chị K 850.833.333 đồng.
- - Từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2021, L đã nhận góp vốn của chị Nguyễn Thị Thu C, 18 lần với tổng số tiền 1.969.000.000 đồng, đưa cho chị C 398.880.000 đồng, nói là lợi nhuận của việc buôn bán, chiếm đoạt của chị C 1.969.000.000 đồng.
- - Từ tháng 10/2021 đến tháng 11/2021, L đã nhận góp vốn của chị Trần Thị Thanh T, 07 lần với tổng số tiền 549.000.000 đồng, đưa cho chị T 60.620.000 đồng, nói là lợi nhuận của việc buôn bán, chiếm đoạt của chị T 549.000.000 đồng.
- - Từ tháng 11/2021 đến tháng 12/2021, L đã nhận góp vốn của chị Nguyễn Thị Ánh T1, 03 lần với tổng số tiền 120.000.000 đồng và chiếm đoạt số tiền này.
- - Từ tháng 3/2021 đến tháng 7/2021, L đã nhận góp vốn của chị Lê Thị T2, nhiều lần với tổng số tiền 770.000.000 đồng, đưa cho chị T2 khoảng 100.000.000 đồng, nói là lợi nhuận của việc buôn bán, chiếm đoạt của chị T2 770.000.000 đồng.
- - Từ tháng 5/2021 đến tháng 11/2021, L đã nhận góp vốn của chị Trần Thị Diễm M1, nhiều lần với tổng số tiền 230.000.000 đồng, đưa cho chị M1 63.200.000 đồng, nói là lợi nhuận của việc buôn bán, chiếm đoạt của chị M1 230.000.000 đồng.
- - Từ tháng 5/2021 đến tháng 9/2021, L đã nhận góp vốn của chị Nguyễn Thị Như B, nhiều lần với tổng số tiền 640.000.000 đồng và chiếm đoạt số tiền này.
- - Từ tháng 7/2020 đến tháng 11/2021, L đã nhận góp vốn của chị Lê Thị Hồng L2, nhiều lần với tổng số tiền 1.248.000.000 đồng, đưa cho chị L2 khoảng 500.000.000 đồng, nói là lợi nhuận của việc buôn bán, chiếm đoạt của chị L2 1.248.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 28/CT-VKSPY-P1 ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Đỗ Thị Bích L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a, Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị Bích L vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố là đúng.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đỗ Thị Bích L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- + Về hình phạt: Áp dụng Điểm a, Khoản 4 Điều 174; Điểm b, s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Phạt: Bị cáo Đỗ Thị Bích L từ 14 năm đến 15 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2023.
- + Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Đỗ Thị Bích L phải bồi thường cho các bị hại Nguyễn Thị Liên K 835.833.333đ (Tám trăm ba mươi lăm triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng), Nguyễn Thị Thu C 1.959.000.000₫ (Một tỷ, chín trăm năm mươi chín triệu đồng), Trần Thị Thanh T 543.000.000đ (Năm trăm bốn mươi ba triệu đồng), Nguyễn Thị Ánh T1 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng). Tổng số tiền bồi thường 3.457.833.333₫ (Ba tỷ, bốn trăm năm mươi bảy triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
- + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (Một) cuốn sổ màu đỏ; 01 USB do Nguyễn Thị Thu C giao nộp; 01 (Một) thẻ nhớ do Nguyễn Thị Liên K giao nộp.
- + Bị cáo Đỗ Thị Bích L phải chịu án phí và được quyền kháng theo quy định pháp luật.
- Luật sư Lê Gia V bào chữa cho bị cáo Đỗ Thị Bích L, đề nghị Hội đồng xét xử, phạt bị cáo thấp hơn mức án mà Kiểm sát viên đề nghị.
Trong phần đối đáp, Kiểm sát viên không nhất trí với lời đề nghị của Người bào chữa, giữ nguyên quan điểm. Bị cáo nói lời sau cùng, xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án không bị khiếu nại. Việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, vắng mặt 03/08 bị hại; 07/07 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhưng xét thấy, những người này đều đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, người bào chữa và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự. Toà án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Thị Bích L tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 6/2020 đến tháng 12/2021, trên địa bàn thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Đỗ Thị Bích L đã đưa ra thông tin gian dối về việc đang buôn bán hạt đác, hạt ươi để vay tiền, kêu gọi góp vốn rồi chiếm đoạt của 08 bị hại với tổng số tiền 6.376.833.333 đồng; trong đó, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Liên K 850.833.333 đồng, chị Nguyễn Thị Thu C 1.969.000.000 đồng, chị Trần Thị Thanh T 549.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Ánh T1 120.000.000 đồng, chị Lê Thị T2 770.000.000 đồng, chị Trần Thị Diễm M1 230.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Như B 640.000.000 đồng và chị Lê Thị Hồng L2 1.248.000.000 đồng, sử dụng mục đích cá nhân. Do đó, bản Cáo trạng số: 28/CT-VKSPY-P1 ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố Đỗ Thị Bích L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a, Khoản 4 Điều 174 BLHS là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo Đỗ Thị Bích L không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “hai lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên để xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là phụ nữ, đã ly hôn chồng, đang trực tiếp nuôi hai con nhỏ; quá trình bị tạm giam đã tích cực hợp tác với cơ quan chức năng, nhanh chóng phát hiện tội phạm trong vụ án khác, được Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục bồi thường cho các bị hại số tiền 71.000.000 đồng, có cậu ruột là liệt sĩ; nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[4] Trách nhiệm bồi thường dân sự:
[4.1] Tại phiên tòa, cũng như các tài liệu có tại hồ sơ thể hiện: Các bị hại Lê Thị T2, Trần Thị Diễm M1, Nguyễn Thị Như B, Lê Thị Hồng L2 tự nguyện không yêu cầu bị cáo Đỗ Thị Bích L phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không xét giải quyết là có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Các bị hại còn lại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền đã chiếm đoạt 3.457.833.333 đồng; cụ thể bị hại Nguyễn Thị Liên K yêu cầu 835.833.333 đồng; Nguyễn Thị Thu C yêu cầu 1.959.000.000 đồng, Trần Thị Thanh T yêu cầu 543.000.000 đồng, Nguyễn Thị Ánh T1 yêu cầu 120.000.000 đồng. Bị cáo Đỗ Thị Bích L chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của các bị hại. Xét sự thỏa thuận của các bị hại với bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, ghi nhận sự thỏa thuận, buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại theo yêu cầu như trên.
[5] Xử lý vật chứng: 01 (Một) cuốn sổ màu đỏ; 01 USB do Nguyễn Thị Thu C giao nộp; 01 (Một) thẻ nhớ do Nguyễn Thị Liên K giao nộp. Là chứng cứ của vụ án, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tiếp tục lưu theo hồ sơ, theo Khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Án phí:
[6.1] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Thị Bích L bị kết án phải chịu 200.000 đồng.
[6.2] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Thị Bích L còn phải bồi thường cho các bị hại số tiền 3.457.833.333 đồng, nên phải chịu 72.000.000 đồng + 2% x 1.457.833.333 đồng = 101.156.666 đồng theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Chị Lê Thị Hồng L2 trình bày khoảng tháng 11/2021, chị L2 có đưa cho Đỗ Thị Bích L số tiền 75.000.000 đồng, tuy nhiên L không thừa nhận có nhận khoản tiền này và không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.
[8] Chị Ngô Ngọc K1 đi cùng Đỗ Thị Bích L gặp chị Lê Thị Hồng L2 để nhận số tiền 30.000.000 đồng; chị Võ Thị Công V1 và chị Phạm Thị C1 được L nhờ giả làm người mua bán hạt đác với L nhằm mục đích kéo dài thời gian trả nợ cho chị L2. Các chị K1, V1 và C1 không biết việc chiếm đoạt tài sản của L nên không đồng phạm với L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Bích L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm a, Khoản 4 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Phạt: Bị cáo Đỗ Thị Bích L – 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Đỗ Thị Bích L phải bồi thường cho các bị hại Nguyễn Thị Liên K 835.833.333đ (Tám trăm ba mươi lăm triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng), Nguyễn Thị Thu C 1.959.000.000₫ (Một tỷ, chín trăm năm mươi chín triệu đồng), Trần Thị Thanh T 543.000.000đ (Năm trăm bốn mươi ba triệu đồng), Nguyễn Thị Ánh T1 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng). Tổng số tiền 3.457.833.333₫ (Ba tỷ, bốn trăm năm mươi bảy triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và phần nghĩa vụ chưa thi hành.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (Một) cuốn sổ màu đỏ; 01 USB do Nguyễn Thị Thu C giao nộp; 01 (Một) thẻ nhớ do Nguyễn Thị Liên K giao nộp.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
4.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Thị Bích L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4.2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Thị Bích L phải chịu 101.156.666₫ (Một trăm lẻ một triệu, một trăm năm mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Bích L
