|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HSST.
Ngày: 22/7/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Lê Lân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Đình Phương.
Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hậu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 22/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T (tên gọi khác: không); sinh ngày: 10/02/1963 tại Bình Định; nơi cư trú: thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: thợ mộc; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Bùi Dần (đã chết) và bà Đào Thị S; sinh năm: 1941; anh, chị, em ruột: 03 người, bị cáo là con cả; vợ: Đặng Thị D, sinh năm: 1965; con: có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị khởi tố và bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P từ ngày 18/12/2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại: Ông Bùi Văn Q, sinh năm: 1968. (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Bùi Hiếu N, sinh năm: 1993 – Là con ruột bị cáo Bùi Văn T. (Có mặt).
- Địa chỉ: Số A đường C, TT. N, huyện P, tỉnh Bình Định.
- + Anh Bùi Thanh L, sinh năm: 1994. (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
Do bị cáo Bùi Văn T có nhược điểm về thính giác nên HĐXX đã thảo luận đồng ý cho Bùi Hiếu N đứng truyền đạt các câu hỏi cho bị cáo T.
- Người làm chứng:
- + Ông Bùi Văn T1, sinh năm: 1965. (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
- + Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm: 1989. (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn T và Bùi Văn Q (sinh năm 1968), ở thôn K, C, P là anh em ruột nhưng có mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai; T cho rằng Q đã xây dựng gara ô tô trên phần đất của mình nên yêu cầu Q tháo dỡ nhưng Q không đồng ý, nên hai bên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 26/8/2023, T đang uống rượu tại nhà thấy Q điều khiển xe ô tô tải chạy vào gara, bực tức chuyện Q không trả lại đất, T cầm một cái chàng (dụng cụ làm nghề mộc) đi bộ vào gara, thấy Q chuẩn bị ra về, T lại gần dùng tay phải đang cầm cái chàng đâm vào đầu Quân; Q dùng tay trái ôm đầu lại và ngồi xuống bên trái hông xe mô tô. T tiếp tục dùng cái chàng đâm nhiều cái vào cánh tay trái và vùng nách trái của Q. Lúc này, Q dùng tay phải đẩy chiếc xe mô tô vào người T nhưng T vẫn lao đến đâm trúng tay phải và “lưỡi chàng” trượt xuống làm thủng yên xe. Thấy trên tay T vẫn cầm chàng nên Q bỏ chạy đến trước nhà Nguyễn Văn Q1 ở gần đó thì gặp Bùi Văn T1 (là em ruột ông T và anh ruột ông Q) đang đi mô tô đến. Thấy ông Q chảy máu nhiều nên ông Tư cởi áo mình ra băng vết thương cho ông Q, còn Q1 ở trong nhà nghe thấy nên chạy ra đưa cái khăn cho ông Q để băng bó vết thương lại.
Lúc này, Bùi Thế V (con ruột ông T) điều khiển xe mô tô đến chở ông Q đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện P, do vết thương nặng nên chuyển nhập viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B đến ngày 31/8/2023 xuất viện.
Sau đó, con của người bị hại Bùi Văn Q biết được sự việc nên đã đánh ông T gây thương tích ở vùng trán.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 324/KLTTCT-PY BĐ ngày 27/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B, đối với Bùi Văn Q; xác định thương tích như sau:
- Chấn thương gây rách da đầu, không tổn thương sọ, nội sọ trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não đã phẫu thuật khâu vết thương điều trị. Hiện để sẹo đầu vùng đỉnh - chẩm trái. Điện não đồ biến đổi nhẹ. Tỷ lệ: 08% (T2 phần trăm).
- Vết thương vùng cánh tay trái đã khâu, điều trị. Hiện để sẹo mặt trong 1/3 trên cánh tay trái (cạnh hõm nách), vận động cánh tay trái trong giới hạn bình thường. Tỷ lệ 03% (Ba phần trăm).
- Vết thương vùng khuỷu tay trái đứt chỗ bám gân duỗi cổ tay, không tổn thương xương đã khâu vết thương điều trị. Hiện để sẹo hình chữ V vùng khuỷu tay trái; vận động khuỷu tay trái trong giới hạn bình thường. Tỷ lệ 03% (Ba phần trăm).
- Vết thương cẳng tay trái gây vỡ bong màng xương đoạn 1/3 giữa xương trụ đã khâu vết thương, điều trị. Hiện để sẹo 1/3 giữa - trong cẳng tay trái. Tỷ lệ: 05% (Năm phần trăm).
- Vết thương cẳng tay phải đã khâu điều trị. Hiện để sẹo 1/3 giữa - trước cẳng tay phải, vận động tay phải trong giới hạn bình thường. Tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm).
* Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn Q tại thời điểm giám định là: 19%.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 01/2024/KLTTCT-PYBĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Trung Tâm Pháp y tỉnh B xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bùi Văn T là: 08%. Thương tích này của bị cáo Bùi Văn T là do Bùi Thanh L (con ruột của bị hại Bùi Văn Q) gây ra đối với bị cáo T. Tuy nhiên, ông Bùi Văn T không yêu cầu bồi thường.
- Về vật chứng: Hiện tạm giữ chuyển cơ quan THADS huyện Phù Cát bảo quản: 01 (một) cái “chàng” (dụng cụ làm nghề mộc), có đặc điểm: Tổng chiều dài 24,5 cm, trong đó: Phần lưỡi bằng kim loại màu đen, bị gỉ loang lổ, có hình dạng chữ “T”, kích thước dài 12cm, phần lưỡi rộng 11,5cm; Phần cán gỗ có hình trụ tròn, có kích thước: dài 12,5cm, đường kính chỗ rộng nhất 2,5cm.
- Về dân sự: Người bị hại Bùi Văn Q yêu cầu bị cáo Bùi Văn T bồi thường tiền điều trị bệnh và tiền tổn thất tinh thần, với tổng số tiền là 26.284.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi tư nghìn đồng). Ngày 25/12/2023, gia đình của Bùi Văn T đã giúp bị cáo khắc phục xong.
Tại bản cáo trạng số: 26/CT-VKSPC, ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, trong phần thủ tục tranh luận, đại diện VKSND huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo với mức án từ: 12 – 18 tháng tù.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Gia đình bị cáo Bùi Văn T đã giúp bị cáo bồi thường xong nên không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tuyên xử: Tịch thu tiêu huỷ 01 cái chàng (dụng cụ làm nghề mộc) có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng mô tả. Hiện đang tạm giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát.
- Trong phần tự bào chữa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt; tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về hoà nhập với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về mặt tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX có đủ căn cứ để khẳng định, tại các giai đoạn tố tụng này, hành vi của những người tiến hành tố tụng và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà xét xử ngày 27/6/2024, HĐXX nhận thấy bị cáo Bùi Văn T bị hạn chế về thính giác, không nghe được các câu hỏi của HĐXX nên đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung giám định y khoa về thính giác đối với bị cáo. Kết quả điều tra bổ sung bị cáo T từ chối việc giám định về thính giác của bị cáo bị hạn chế do bệnh lý vì bị cáo có khả năng nghe ở khoảng cách gần nên đề nghị có người hỗ trợ.
[2] Xét diễn biến của vụ án và hành vi của bị cáo đã thực hiện, HĐXX thấy rằng:
[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận toàn bộ diễn biến của vụ án; thời gian, địa điểm và hành vi của bị cáo đã thực hiện đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại các biên bản hỏi cung bị can của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; phù hợp với lời khai của người bị hại Bùi Văn Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Thanh L và những người làm chứng trong vụ án; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Vì vậy, HĐXX có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai giữa anh em ruột với nhau, nhưng chưa được giải quyết ổn thỏa, nên giữa hai anh em thường xuyên xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn, không ai chịu nhường ai. Trong lúc có men rượu thấy bực tức nhưng không tự kiềm chế được, Bùi Văn T đã sử dụng cái chàng - là hung khí nguy hiểm, đâm gây thương tích cho Bùi Văn Q, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 19% vào khoảng 17 giờ 10 phút ngày 26/8/2023 tại thôn P, xã C, huyện P.
Hành vi nêu trên của Bùi Văn T đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS. Vì vậy, Cáo trạng số 26/CT-VKSPC ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Bùi Văn T với tội danh, khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của Bùi Văn Q một cách trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên xét thấy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo, răn đe, giáo dục đối với chính bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Xét đặc điểm nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS để HĐXX xem xét, cân nhắc khi lượng hình.
Qua xem xét, tuy vụ án lỗi chủ yếu là do bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, giữa bị cáo và người bị hại có mối quan hệ là anh em ruột, mâu thuẫn xảy ra trong gia đình. Sau khi bị đánh, con của bị cáo cũng đã kịp thời đưa bị hại đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện P. Bản thân của bị cáo tuổi cũng đã cao, có hạn chế về thính giác, qua quá trình tạm giam bị cáo cũng đã thể hiện sự ăn năn hối cải. Do đó, HĐXX thấy rằng cần cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của nhà nước, áp dụng Điều 54 BLHS để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc mâu thuẫn của gia đình dòng họ về sau.
Đối với thương tích của bị cáo Bùi Văn T 08%, sau khi đánh người bị hại Bùi Văn Q, thì bị cáo bị con của ông Q đánh gây ra, tuy nhiên trong quá trình điều tra bị cáo không yêu cầu xử lý về hình sự cũng như dân sự nên HĐXX không xem xét.
[4] Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:
[4.1] Trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[4.2] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra Công an huyện P tạm giữ và chuyển giao cho Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát vật chứng của vụ án: 01 (một) cái “chàng” (dụng cụ làm nghề mộc), có đặc điểm: Tổng chiều dài 24,5 cm, trong đó: Phần lưỡi bằng kim loại màu đen, bị gỉ loang lổ, có hình dạng chứ “T”, kích thước dài 12cm, phần lưỡi rộng 11,5cm; Phần cán gỗ có hình trụ tròn, có kích thước: dài 12,5cm, đường kính chỗ rộng nhất 2,5cm. Đây là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS - 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trình bày lời luận tội, đề nghị HĐXX xem xét đặc điểm nhân thân của bị cáo, áp dụng các tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt phù hợp với nhận định của HĐXX nên Tòa án chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV.
Tuyên xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 10 (mười) tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam: 18/12/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:
3.1. Về trách nhiệm dân sự: Không
3.2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án: 01 (một) cái “chàng” (dụng cụ làm nghề mộc), có đặc điểm: Tổng chiều dài 24,5 cm, trong đó: Phần lưỡi bằng kim loại màu đen, bị gỉ loang lổ, có hình dạng chứ “T”, kích thước dài 12cm, phần lưỡi rộng 11,5cm; Phần cán gỗ có hình trụ tròn, có kích thước: dài 12,5cm, đường kính chỗ rộng nhất 2,5cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát).
4. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST sung vào ngân sách nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận tống đạt trực tiếp hoặc niêm yết công khai hợp lệ bản án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Lân |
Bản án số 30/2024/HSST ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 30/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BÙI VĂN T - CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
