Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG XUÂN

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 13/12/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Ngọc Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Ngọc Ánh và Bà Nguyễn Thị Kiều Linh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà:

Bà Phan Quỳnh N – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Nông Văn Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1985, tại tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Lái xe. Con ông Nông Văn H (Chết) và Bà Dương Thị V, Sinh năm 1961.

Bị cáo có Vợ: Nguyễn Thị L – Sinh năm 1985, có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ 12/6/2024 đến nay tại thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Bị hại: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Huỳnh Tấn V1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; nơi cư trú: Buôn M, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghi ngờ vợ mình là Nguyễn Thị L có quan hệ nam nữ bất chính với Huỳnh Tấn V1 nên khoảng 22 giờ ngày 09/4/2024, Nông Văn Q một mình điều khiển xe mô tô biển số 78M1-029.76 đi từ nhà đến lán trại khai thác keo ở khu vực rừng “Bốn Tiếng” thuộc thôn P, xã P, huyện Đ để bắt và đánh ghen. Khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, phát hiện L và V1 đang quan hệ tình dục với nhau trong lán trại nên Q đến gian bếp bên cạnh lán trại lấy con dao dài khoảng 25cm rồi vào lán trại chém V1 01 cái trúng vào mông trái gây thương tích. Bị chém, V1 bỏ chạy ra khỏi lán trại thì Q cầm dao chém 01 cái trúng vào vùng vai cánh tay trái gây thương tích, sau đó V1 bỏ chạy vào rừng keo trốn. Lúc này Q nói V1 ra nói chuyện với Q nếu không Q đốt xe ô tô tải của V1, không thấy V1 ra nên Q lấy can xăng ở trước lán trại tạt lên đầu xe ô tô tải biển số 78C-028.66 của V1 (xe ô tô tải do ông Huỳnh Văn T – Sinh năm 1956 trú thôn L, xã X, huyện Đ đứng tên chủ sở hữu giao cho V1 quản lý, sử dụng) rồi dùng bật lửa đốt cháy xe ô tô tải. Lúc này, một số công nhân khai thác keo ở gần đó phát hiện nên chạy đến dập lửa, còn Q điều khiển xe mô tô đi về nhà.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-ĐGTTHS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Giá trị tài sản xe ô tô tải biển số 78C-028.66 bị thiệt hại do hậu quả của vụ việc hủy hoại tài sản là 22.330.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 182/KLTTCT-PYPY ngày 23/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Tấn V1 tại thời điểm giám định là 09%; Vật tác động: Vật có cạnh sắc.

Vật chứng vụ án: Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân.

Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKSĐX ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nông Văn Quảng về tội: "Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 BLHS.

Kiểm sát viên luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Kết luận các bị cáo Nông Văn Q phạm tội: “Hủy hoại tài sản”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn Q phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.

* Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54 BLHS, xử phạt bị cáo Nông Văn Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

* Về vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) cái màn màu xanh, kích thước (1,8 x 1,6 x 1,6) mét, dây móc màn ở góc phía tây bị đứt, rách vai nham nhở, diện (03 x 03)cm, cạnh trên màn ở phía tây nam cách góc màn phía tây 1,10 mét có vết rách nham nhở, diện (09 x 06)cm.
  • + 01 (một) bật lửa màu đỏ không rõ hiệu, kích thước (7,5 x 02 x 0,9)cm.
  • + 01 (một) cái rựa dài 60,5cm, cán bằng gỗ tròn dài 33,5cm, đường kính 2,7cm, trên cán có khâu kim loại dài 08cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 27cn, bản rộng nhất 3,4cm.
  • + 01 (một) can nhựa màu trắng bị cháy nham nhỡ, biến dạng, kích thước (54 x 22)cm, trên can có chữ “CÔNG TY DẦU THỰC VẬT MINH HUỆ”, vệt chất còn bám dính trên can có mùi đặc trưng của xăng dầu.
  • + 01 (một) số mảnh kính có độ dày 0,5cm, phần lớn bị ám khói đen.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 40.000.000 đồng, bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu của bị hại và đã bồi thường số tiền 8.000.000 đồng, vì vậy đề nghị buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 32.000.000 đồng cho bị hại ông Huỳnh Văn T.

Kể từ ngày bị đơn ông Huỳnh Văn T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo không trả được sẽ phải chịu lãi suất chậm trả đối với khoản tiền chậm thanh toán theo mức lãi xuất do Ngân hàng N1 quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST; bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên nên không phải chịu án phí DSST.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo, các chứng cứ xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 09/4/2024 tại khu vực rừng “Bốn Tiếng” thuộc thôn P, xã P, huyện Đ, Nông Văn Q đã dùng xăng là chất cháy nguy hiểm tưới lên đầu xe ô tô tải biển số 78C-028.66 do ông Huỳnh Tấn V1 đang quản lý và dùng bật lửa đốt cháy đầu xe gây thiệt hại 22.330.000 đồng.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản thuộc sở hữu của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại đều vi phạm và bị pháp luật xử lý nhưng bị cáo đã có hành vi cố ý làm huỷ hoại tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điều 51 BLHS, nên áp dụng Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000đ; bị hại đã bồi thường 8.000.000đ, nên bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 32.000.000đ. Xét thấy sự thỏa thuận là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận.

[5] Về vật chứng vụ án: Xét thấy các vật chứng không còn giá trị, nên áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy các vật chứng (Có đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân).

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nông Văn Q phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST; bị cáo, bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa nên không phải chịu án phí DSST.

Xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn Q phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

- Áp dụng Đ d Khoản 2 Điều 178; Điểm b, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS.

Xử phạt: Nông Văn Q 01( Một) năm 03( Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) cái màn màu xanh, kích thước (1,8 x 1,6 x 1,6) mét, dây móc màn ở góc phía tây bị đứt, rách vai nham nhở, diện (03 x 03) cm, cạnh trên màn ở phía tây nam cách góc màn phía tây 1,10 mét có vết rách nham nhở, diện (09 x 06) cm.
  • + 01 (một) bật lửa màu đỏ không rõ hiệu, kích thước (7,5 x 02 x 0,9)cm.
  • + 01 (một) cái rựa dài 60,5cm, cán bằng gỗ tròn dài 33,5cm, đường kính 2,7cm, trên cán có khâu kim loại dài 08cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 27cn, bản rộng nhất 3,4cm.
  • + 01 (một) can nhựa màu trắng bị cháy nham nhỡ, biến dạng, kích thước (54 x 22)cm, trên can có chữ “CÔNG TY DẦU THỰC VẬT MINH HUỆ”, vệt chất còn bám dính trên can có mùi đặc trưng của xăng dầu.
  • + 01 (một) số mảnh kính có độ dày 0,5cm, phần lớn bị ám khói đen.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân).

* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nông Văn Q với ông Huỳnh Văn T như sau: Bị cáo Nông Văn Q chấp nhận bồi thường cho ông Huỳnh Văn T số tiền 40.000.000đ, theo yêu cầu của ông T; bị cáo đã bồi thường cho ông T 8.000.000đ, nên còn phải tiếp tục bồi thường cho ông T số tiền 32.000.000₫ (Ba mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án phải chịu lãi chậm trả với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nông Văn Q phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Đồng Xuân;
  • - Công an huyện Đồng Xuân;
  • - CC THADS huyện Đồng Xuân;
  • - Những người tham gia tố tụng;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Ngọc Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về hủy hoại tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy hoại tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger