TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK HÀ TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HS-ST. Ngày: 29/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ -TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Tuấn và Phạm Thị Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Hà - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: A H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15 tháng 12 năm 2005 tại huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xơ Đăng; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông A M, sinh năm 1979 và bà Y H1, sinh năm 1981; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 10 chị, em ruột; Bị cáo chưa lập gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/7/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà xử phạt 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.
Hiện bị cáo đang bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị cáo: Y H2; Sinh năm: 2002; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thúy H3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K. (Có mặt)
- Bị hại:
+ Anh A H4; Sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
+ Anh A Á; Sinh năm: 1987; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
+ Anh A T; Sinh năm: 11/01/2005; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
+ Chị Y H5; Sinh năm: 23/8/2007; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại Y H5: Bà Y H5 và ông A Y; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh A Thanh V; Sinh ngày: 20/11/2008; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan A Thanh V: Chị Y P; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
+ Anh A N; Sinh ngày: 23/7/2009; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan A N: Ông A Đ; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/7/2023, A H (sinh ngày 15/12/2005; trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) cùng A Thanh V (sinh ngày 20/11/2008), A N (sinh ngày 23/7/2009, cùng trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) ngồi uống rượu với tại nhà A Thanh V. Trong lúc ngồi uống rượu thì A H rủ A Thanh V và A N đi trộm điện thoại di động để bán lấy tiền, A Thanh V và A N đồng ý. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/7/2023 A H, A Thanh V và A N đi bộ dọc tuyến đường bê tông thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để xem nhà nào không khóa cửa thì sẽ vào tìm điện thoại để lấy trộm. Khi đi đến nhà ông A H4, thấy nhà ông A H4 mở cửa thì A H và A N đứng bên ngoài cảnh giới, còn A Thanh V đi vào tìm và phát hiện có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A màu đen đang treo ở cột gỗ trong nhà đi đến lấy rồi đi ra. Rời khỏi nhà ông A H4, cả ba tiếp tục đi được khoảng 50m thấy nhà ông A T cũng không khóa cửa thì A H đi vào nhà và thấy 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME C15 màu xanh đang sạc pin để ở trên băng ghế (A Thanh V và A N đứng ngoài cảnh giới). Đến nhà ông A Á, thấy cửa không khóa thì A N đi vào tìm, phát hiện và lấy 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng nhạt của ông A Á đang để trên chồng sách vở trên bàn học (lần này A H và A Thanh V đứng ngoài cảnh giới). Đi đến nhà chị Y H5 thì A N đi vào tìm, lấy trộm được 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo I91C màu xanh đen đang sạc pin để trong túi treo ở cửa sổ phòng ngủ. Sau khi lấy được 04 (bốn) chiếc điện thoại trên cả ba đem cất giấu tại nhà A Thanh V, chưa kịp tiêu thụ thì bị Công an xã Đ phát hiện và tạm giữ các điện thoại trên.
Ngày 27/7/2023, A H4; A T; A Á; Y H5 làm đơn trình báo vụ việc trên cho Công an xã Đ. Ngày 02/8/2023 Công an xã Đ chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG ngày 14/8/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 04 (bốn) điện thoại di động, giá trị của tài sản là 2.900.000 đồng (Hai triệu, chín trăm ngàn đồng chẵn).
Tại bản Cáo trạng số: 39/CT-VKSĐH ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo A H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, truy tố bị cáo A H về tội “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo A H từ 06 đến 07 tháng tù. Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Tài sản trộm cắp đều đã trả lại cho chủ sở hữu, tổng giá trị tài sản trộm cắp không lớn. Ngoài ra, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa thành niên, nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức án 05 tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình, không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, thống nhất với lời trình bày của người bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo A H phù hợp với lời khai của bị cáo trước đó tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của các bị hại, khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/7/2023, A H, A Thanh V, A N đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 04 (bốn) điện thoại di động có tổng giá trị tài sản là 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm ngàn đồng) của A H6, A T, A Á, Y H5. Mục đích trộm cắp tài sản để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Trong đó, A H là người rủ rê và cũng là người thực hiện, A Thanh V, A N khi được rủ rê đã đồng ý và cũng là người trực tiếp thực hiện. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, A T1 Vỹ mới 14 tuổi 03 ngày, A N 14 tuổi 08 tháng 06 ngày, chưa đủ tuổi nên Cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A Thanh V, A N.
Vào thời điểm phạm tội, bị cáo A H là người dưới 18 tuổi nhưng có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện; xâm phạm quan hệ về sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của A H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng do không có nghề nghiệp ổn định, lười biếng học tập, lao động, muốn nhanh chóng kiếm tiền, nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị là 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm ngàn đồng). Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo thể hiện sự lén lút, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến trật tự trị an của địa phương. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong tình hình hiện nay.
[4] Về nhân thân, và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[4.1] Về nhân thân: Ngày 28/7/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà xử phạt 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/11/2022 bị cáo A H chấp hành xong quyết định trên, tính đến ngày ngày 26/7/2023 bị cáo chưa hết thời hạn 01 năm. Nhưng do bị cáo là người dưới 18 tuổi, phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự. Bị cáo A H không có án tích. Nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.
[4.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo A H không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[4.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đồng thời, thiệt hại bị cáo gây ra không lớn, tài sản đều được trả lại cho bị hại. Vì vậy, bị cáo A H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét về độ tuổi của bị cáo khi thực hiện tội phạm, bị cáo sinh ngày 15/12/2005. Thời điểm phạm tội, bị cáo đã trên 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi; do đó, Hội đồng xét xử áp dụng chế định người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, đây là vụ án “Trộm cắp tài sản” có tính chất giản đơn. Hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn nhưng đã gây hoang mang bất bình trong dư luận quần chúng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Trong giai đoạn xét xử, khi đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo đã cố tình bỏ trốn khỏi địa phương. Hành vi của bị cáo đã gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án. Ngày 13/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã bắt người đang bị truy nã đối với bị cáo A H. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo thấp. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo, đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự, bị cáo A H không phải chịu hình phạt bổ sung.
[6] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo I91C; Ram 3; Bộ nhớ 32GB màu xanh đen (điện thoại đã qua sử dụng, bị vỡ mặt kính màn hình); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME C15; Ram 3; Bộ nhớ 32GB màu xanh (điện thoại đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S; Ram 3; Bộ nhớ 32GB màu vàng nhạt (điện thoại đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A; Ram 3; Bộ nhớ 32GB màu đen (điện thoại đã qua sử dụng). Quá trình điều tra, xác minh xác định 04 (bốn) điện thoại di động là tài sản thuộc sỡ hữu của A H4, A T, A Á, Y H5. Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý đồ vật, tài sản trả lại các điện thoại nêu trên cho chủ sở hữu là A H4, A T, A Á, Y H5 quản lý, sử dụng. Xét thấy, việc Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản thiệt hại gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Các vấn đề khác: Đối với A Thanh V, A N là người trực tiếp cùng với A H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, A Thanh V và A N chưa đủ 16 tuổi, do vậy Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với A Thanh V và A N. Căn cứ Luật xử phạt vi phạm hành chính; Điểm a, Khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với A T2, A Thanh V về hành vi trộm cắp tài sản. Việc Cơ quan điều tra xử lý đối với A Thanh V, A N là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng . Tuy nhiên, vào trước phiên tòa hình sự sơ thẩm ngày 29/5/2024 bị cáo đã có đơn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm với lý do là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Xét thấy, bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo A H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo A H 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 13/5/2024.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo A H không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Nga |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ - TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ - TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo A Hoàng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
