|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST. |
Ngày: 19/4/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tấn Sinh
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Trọng Di
+ Ông Ngô Anh Tuấn
-Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Phúc L (tên gọi khác: T), sinh ngày 22/7/2006 tại tỉnh Bình Thuận.
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N, sinh năm 1971 và bà Lê Thị Y, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Nguyễn N - sinh năm 1971, bà Lê Thị Y - sinh năm 1979.
Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (là cha, mẹ của bị cáo - có mặt).
- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo: ông Nguyễn Trường D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phúc L; sinh ngày 22/7/2006 trú tại: khu phố G, thị trân Phan Rí C, huyện T, tỉnh Bình Thuận là đối tượng nghiện ma túy, do có nhu câu sử dụng ma túy đá nên vào khoảng 17 giờ 15 phút ngay 24/01/2024, L đi đến khu vực đường hẻm phía sau trường Tiểu học P1 thuộc thị trấn P, huyện T tìm gặp một người thanh niên tên Sơn P hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá, Sơn P đồng ý và bán cho L 02 gói ma túy. L cất giấu 02 gói ma túy vào túi quần bên trái phía trước L đang mặc rồi đi bộ ra khu vực thuộc thôn L, xã H, huyện T để tìm nơi sử dụng ma túy. Đến khoảng 17 giờ 45 phút ngày 24.01.2024, Đồn Biên phòng H phối hợp với Đội đặc nhiệm PCMT& TP, Phòng PCMT& TP Bộ đội Biên phòng tỉnh B và Công an xã H, huyện T tiến hành tuần tra đến khu vực trước nhà nghỉ A thuộc thôn L, xã H, huyện T thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Phúc L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ bao gồm: Thu giữ trong túi quần bên trái phía trước của L đang mặc 02 gói nylon (trong đó 01 gói nylon kích thước khoảng 04cm x 07cm, có nhíp kéo một đầu viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 01 gói nylon kích thước khoảng 01 cm x 02cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng). L khai nhận chất tinh thể rắn màu trắng chứa trong 02 gói nylon thu giữ của L là ma túy đá của L cất giấu để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định về ma túy số 155/KL-KTHS ngày 29.01.2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M1 gửi đến giám định có khối lượng 4,3097 gam là Methamphetamine.
Mẫu M2 gửi đến giám định có khối lượng 0,1065 gam là Methamphetamine.
Như vậy, tổng khối lượng Methamphetamine Nguyễn Phúc L tàng trữ là 4,4162 gam.
Lời khai của Nguyễn Phúc L phù hợp với biên bản bắt người phạm tội qua tang, phù hợp với biên bản thu giữ các tang vật chứng và kết quả giám định chất ma túy có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Phúc L đang cất giấu 02 gói Methaphetamine có tổng khối lượng 4,4162 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Về tang vật chứng: Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo một đầu viền màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 07)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (01 x 02)cm đã cắt lấy mẫu và 4,2003 gam mẫu M1 và 0,0387 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 155 có chữ kí của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B.
Tại Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSTP-HS, ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Nguyễn Phúc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong gi ữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- + Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc L từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo một đầu viền màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 07)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (01 x 02)cm đã cắt lấy mẫu và 4,2003 gam mẫu M1 và 0,0387 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 155 có chữ kí của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Đối với người thanh niên tên Sơn P đã bán Methamphetamine cho Nguyễn Phúc L, do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo:
Thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuy nhiên xét thấy quá đình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, nên áp dụng quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 101, Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xem xét xử lý mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo để sớm hòa nhập cộng đồng.
Bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo (cha mẹ của bị cáo): thống nhất với quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, không bổ sung gì thêm.
- Bị cáo Nguyễn Phúc L thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố bị cáo là đúng, không oan, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phúc L, người đại diện hợp pháp cho bị cáo; Trợ giúp viên pháp lý không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và biên bản phạm tội quả tang, đã làm rõ: Vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 24/01/2024 tại khu vực đường hẻm phía sau trường Tiểu học P1 thuộc thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận bị cáo Nguyễn Phúc L mua của một người thanh niên tên Sơn P 02 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng. Sau đó lợi đi bộ ra khu vực thuộc thôn L, xã H, huyện T để tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ bao gồm: Thu giử trong tuổi quần ben trái phía trước của L đang mặc 02 gói ny lon (trong đó 01 gói ny lon kích thước khoảng 04cm x 07cm, có nhíp kéo một đầu viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 01 gói ny lon kích thước khoảng 01cm x 02cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng với tổng khối lượng 4,4162 gam; là Methamphetamine (Tại Bản kết luận giám định về ma túy số 155/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B). Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Phúc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phải nhận thức để biết được rằng hành vi lén lút cất giấu ma túy là xâm phạm đến nguyên tắc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy nhưng do bị nghiện nên đã thực hiện hành vi này. Methamphetamine là chất ma túy, gây ức chế làm giảm hoạt động của não bộ và hệ thống thần kinh trung ương, vì thế nó ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh và sức khỏe của người sử dụng nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, không những tiếp tay cho các tệ nạn xã hội, làm phát sinh các loại tội phạm khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho gia đình và cộng đồng dân cư. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo có thời gian tu dưỡng, học tập, lao động và rèn luyện bản thân, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tuy nhiên khi phạm tội bị cáo Nguyễn Phúc L (sinh ngày 22.7.2006) là người dưới 18 nên nhận thức có phần hạn chế, nên áp dụng chính sách xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử lý nhẹ hơn so với người đã thành niên. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Về tang, vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo một đầu viền màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 07)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (01 x 02)cm đã cắt lấy mẫu và 4,2003 gam mẫu M1 và 0,0387 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 155 có chữ kí của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B vì đây là vật cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị sử dụng.
[6] Đối với người thanh niên tên Sơn P đã bán Methamphetamine cho Nguyễn Phúc L, do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Bị cáo Nguyễn Phúc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phúc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản Điều 51; Điều 91và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phúc L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 24/01/2024.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo một đầu viền màu đỏ, kích thước khoảng (04 x 07)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (01 x 02)cm đã cắt lấy mẫu và 4,2003 gam mẫu M1 và 0,0387 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 155 có chữ kí của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B. (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 20/3/2024).
Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Phúc L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/4/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Tấn Sinh |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phúc Lợi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
