|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 20 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Lạc
Bà Lê Thị Linh Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Ngô Anh Duy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An mở phiên tòa hình sự sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Kiều Văn T, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1989 tại huyện C, thành Phố Hồ Chí Minh; Tên gọi khác: Không có; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ B, ấp Đ, xã N, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Kiều Văn L, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1956; vợ: Võ Thị Hồng P, sinh năm 1995; bị cáo có 01 người con sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 09/9/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phạt 06 tháng tù treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Cướp giật tài sản”; Bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt: Ngày 25/10/2006, xử 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 14/10/2007, ngày 29/01/2019 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 29/5/2020. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến ngày 28/7/2024 chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Cao Thị Hồng C, sinh năm 2004. Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An (có mặt).
2. Em Lê Thị Phượng Q, sinh năm 2013. Người đại diện hợp pháp cho Lê Thị Phượng Q là bà Võ Thị Hồng P, sinh năm 1995. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được thể hiện như sau:
- Cáo trạng số 29/CT-VKSVH ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố bị cáo Kiều Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, với hành vi được tóm tắt như sau:
Ngày 18/7/2024, Kiều Văn T đi xe khách từ nhà đến ngã tư B, thuộc xã B, thị xã K gặp một người đàn ông tên S (không xác định được nhân thân, địa chỉ) hỏi mua 1.300.000 đồng ma túy đá để về sử dụng, người này giao cho T 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá. Truân đi xe khách về xã V, cất giấu ma túy tại nhà. Khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 19/7/2024, T lấy 01 gói nylon chứa ma túy đổ một ít vào gói nylon khác hàn kín lại, cầm trên tay, lấy xe đạp điện của con gái Lê Thị Phượng Q chạy đi tìm chỗ sử dụng, khi đến đường nội bộ thuộc cụm dân cư Ấp A, xã V, huyện V thì bị Công an xã V kiểm tra bắt quả tang lúc 13 giờ 00 phút cùng ngày, thu giữ 01 gói nylon được hàn kín 2 đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Cơ quan Điều tra phối hợp với Công an xã V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T (thuê nhà của bà Trương Thị T2) lúc 13 giờ 45 phút ngày 19/7/2024, phát hiện, thu giữ:
01 gói nylon được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, nằm bên trong tấm nhựa bọc ghế ngồi bằng kim loại, 4 chân, tại vị trí bên trong nhà, sát vách tường phía Đ, giáp với cửa sắt phía trước nhà.
01 bình thủy tinh hình trụ tròn phía trên có 02 đầu tròn, một đầu gắn ống hút nhựa; 01 bình nhựa hình bầu tròn màu trắng có quấn băng keo đen, nắp màu trắng có hai lỗ tròn; 01 ống hút nhựa trong suốt có vát chéo một đầu; 03 nỏ thủy tinh trong đó có 02 nỏ đã bị vỡ; 19 ống thủy tinh dài 18,7cm đường kính 6mm. Tất cả đặt trên nền gạch tại gian phòng ngủ.
01 gói nylon được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, nằm bên trong ngăn tủ bằng gỗ, để sát vách tường phía Tây, giáp với vách tường ở giữa nhà, ngăn nhà ra làm hai phần.
Tại Kết luận giám định số: 504/KL-KTHS ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:
“1. Túi niêm phong mã số NS4 1937474: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng lượng: 0,2328 gam, loại: Methamphetamine.
3
2. Túi niêm phong mã số NS4 1937555: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1230 gam, loại: Methamphetamine.
3. Túi niêm phong mã số NS4 1937556: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,7884 gam, loại: Methamphetamine.”
Như vậy, tổng khối lượng ma túy Truân tàng trữ để sử dụng là 3,1442 gam, loại: Methamphetamine.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Kiều Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 19/7/2024. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong nguyên vẹn, có chữ ký của người niêm phong Huỳnh Quốc C1 và người chứng kiến Phùng Mạnh K, bên trong gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,1510 gam (túi niêm phong mã số NS4 1937474); 0,0665 gam (túi niêm phong mã số NS4 1937555), 2,2633 gam (túi niêm phong mã số NS4 1937556). Tất cả mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 504. 01 bình thủy tinh hình trụ tròn phía trên có 02 đầu tròn, một đầu gắn ống hút nhựa; 01 bình nhựa hình bầu tròn màu trắng có quấn băng keo đen, nắp màu trắng có hai lỗ tròn; 01 ống hút nhựa trong suốt có vát chéo một đầu; 03 nỏ thủy tinh trong đó có 02 nỏ đã bị vỡ; 19 ống thủy tinh dài 18,7cm đường kính 06mm. Đây là các chất cấm lưu hành và vật dụng bị cáo T dùng để sử dụng trái phép ma túy.
Giao trả cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu S1 J6+ gắn sim số 037.2604.989; Giao trả cho cháu Lê Thị Phượng Q 01 xe đạp điện màu đỏ, đã qua sử dụng, do các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- Ý kiến của bị cáo thống nhất hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố trong cáo trạng, quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều tự nguyện khai báo, không bị ép cung nhục hình, bị cáo có nhiều lần sử dụng ma túy, số ma túy bị bắt giữ bị cáo mua để dành sử dụng dần, bị cáo cất giấu nên không ai biết và cũng không có mục đích nào khác.
- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà C khai: Xe đạp điện là của bà mua và đã cho cháu là Q sử dụng đi học, bà không biết gì về việc bị cáo lấy xe đi tìm chỗ sử dụng trái phép chất ma túy.
4
- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Q (do bà P là người đại diện hợp pháp): Cháu Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện, chiếc xe đạp điện bị thu giữ là của dì ruột tên C cho để làm phương tiện đi học hàng ngày. Bị cáo T tự ý lấy xe đi và bị công an bắt giữ thì cháu hoàn toàn không biết.
Thực hiện quyền được nói lời sau cùng bị cáo nói: Mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt vì bản thân đã nhận thức được sai trái mà mình gây ra cho xã hội, gia đình; nay rất ăn năn, hối hận, mông được làm lại cuộc đời, về chăm sóc cho mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Q và người đại diện hợp pháp là bà P vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ đã có đầy đủ lời khai, tài liệu chứng cứ liên quan, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến xét xử vụ án nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo; phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ. Cụ thể: Với mục đích để có ma túy sử dụng, ngày 18/7/2024, bị cáo đón xe khách, không nhớ biển số đến cửa khẩu B, thị xã K mua 1.300.000 đồng ma túy gồm 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá, bị cáo đem về cất giữ trong nhà tại ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An. Khi bị cáo lấy một ít ma túy đi tìm chỗ sử dụng thì Công an xã V bắt quả tang lúc 13 giờ 00 phút ngày 19/7/2024. Đồng thời, tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo T, cơ quan Điều tra Công an huyện V đã thu giữ các tang vật gồm: 03 túi nylon được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 bình thủy tinh hình trụ tròn phía trên có 02 đầu tròn, một đầu gắn ống hút nhựa; 01 bình nhựa hình bầu tròn màu trắng có quấn băng keo đen, nắp màu trắng có hai lỗ tròn; 01 ống hút nhựa trong suốt có vát chéo một đầu; 03 nỏ thủy tinh trong đó có 02 nỏ đã bị vỡ; 19 ống thủy tinh dài 18,7cm đường kính 06mm. Kết quả giám định của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Các chất thu giữ nêu trên là ma túy, tổng khối lượng là 3,1442 gam, loại: Methamphetamine.
Hành vi tàng trữ ma túy với khối lượng 3,1442 gam, loại Methamphetamine nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 29/CT-VKSVH ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Viện
5
kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo có đủ nhận thức về tác hại của ma túy và quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý chất ma túy, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác cùng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người sử dụng ma túy và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có khả năng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để có hình phạt tương xứng
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Không có nhưng bị cáo có nhân thân xấu.
[7] Từ các phân tích nêu trên, khẳng định hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo T kiếm sống bằng công việc làm thuê, không có thu nhập ổn định, hiện tại không có tài sản, tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
[9] Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Cần tịch thu tiêu hủy vật chứng là các chất cấm lưu hành và công cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 bì thư niêm phong nguyên vẹn, có chữ ký của người niêm phong Huỳnh Quốc C1 và người chứng kiến Phùng Mạnh K, bên trong gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,1510 gam (túi niêm phong mã số NS4 1937474); 0,0665 gam (túi niêm phong mã số NS4 1937555), 2,2633 gam (túi niêm phong mã số NS4 1937556). Tất cả mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 504. 01 bình thủy tinh hình trụ tròn phía trên có 02 đầu tròn, một đầu gắn ống hút nhựa; 01 bình nhựa hình bầu tròn màu trắng có quấn băng keo đen, nắp màu trắng có hai lỗ tròn; 01 ống hút nhựa trong suốt có vát chéo một đầu; 03 nỏ thủy tinh trong đó có 02 nỏ đã bị vỡ; 19 ống thủy tinh dài 18,7cm đường kính 06mm.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu S1 J6+ gắn sim số 037.2604.989 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; 01 xe đạp điện màu đỏ, đã qua sử dụng, là của bà Cao Thị Hồng C mua cho cháu Lê Thị Phượng Q sử dụng để đi
6
học, bị cáo T tự ý lấy xe đi không được sự đồng ý của cháu Q và trong vụ án này bị cáo bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vì vậy cần giao trả các tài sản này cho chủ sở hữu hợp pháp.
[10] Đối với người đàn ông tên S bán ma túy cho bị cáo tại của khẩu B, thị xã K không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V chưa có căn cứ xác minh để xử lý là phù hợp.
[11] Đối với bà P sống chung nhà với bị cáo T nhưng không biết gì về số ma túy mà Truân tàng trữ nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm.
[12] Về án phí: Bị cáo Kiều Văn T không thuộc trường hợp được miễn giảm án phí nên bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Kiều Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Kiều Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 19/7/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ Luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Kiều Văn T để đảm bảo cho việc thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 20 tháng 9 năm 2024.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong nguyên vẹn, có chữ ký của người niêm phong Huỳnh Quốc C1 và người chứng kiến Phùng Mạnh K, bên trong gồm: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,1510 gam (túi niêm phong mã số NS4 1937474); 0,0665 gam (túi niêm phong mã số NS4 1937555), 2,2633 gam (túi niêm phong mã số NS4 1937556). Tất cả mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 504. 01 bình thủy tinh hình trụ tròn phía trên có 02 đầu tròn, một đầu gắn ống hút nhựa; 01 bình nhựa hình bầu tròn màu trắng có quấn băng keo đen, nắp màu trắng có hai lỗ tròn; 01 ống hút nhựa trong suốt có vát chéo một đầu; 03 nỏ thủy tinh trong đó có 02 nỏ đã bị vỡ; 19 ống thủy tinh dài 18,7cm đường kính 06mm.
Giao trả cho bị cáo Kiều Văn T 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6+ gắn sim số 037.2604.989.
Giao trả cho cháu Lê Thị Phượng Q (người đại diện là bà Võ Thị Hồng P) 01 xe đạp điện màu đỏ, đã qua sử dụng.
7
Các vật chứng nêu trên hiện đang do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Buộc bị cáo Kiều Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Kiều Văn T, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Hồng C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Lê Thị Phượng Q (người đại diện là bà Võ Thị Hồng P) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Liễu |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T nghiện ma túy nên mua ma túy về cất giữ trong nhà để giành sử dụng, khi bị cáo đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang. bị cáo bị xử 02 năm 6 tháng tù
