|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày: 20 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Xuân Dũng
Bà Trương Thị Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Dân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liệu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 602/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024, đối với
1. Bị cáo: Đặng Văn H (tên gọi khác: Nóc) sinh ngày 03 tháng 02 năm 1988 tại thị xã A, tỉnh Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; hiện ở tại: Thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Đặng Văn D sinh năm 1962 và bà Huỳnh Thị S sinh năm 1960; vợ: Bà Trần Thị T sinh năm 1990; có 02 người con Đặng Thanh H1 sinh năm 2011, Đặng Gia H2 sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 16/02/2023, bị Công an xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC, đã nộp tiền vào ngày 20/02/2023. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
2. Người làm chứng
2.1. Anh Nguyễn Trung S1 sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
2.2. Anh Hồ Đào Tân s năm 2004; nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt;
2.3. Anh Nguyễn Thanh H3 sính năm 2004; nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
2.4. Anh Bùi Trung N sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt;
2.5. Anh Bùi Trung D1 sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt;
2.6. Anh Nguyễn Hữu N1 sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
2.7. Anh Lê Anh Q sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
2.8. Anh Nguyễn Văn Q1 sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
2.9. Anh Cao Văn S2 sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 07/02/2024, Nguyễn Trung S3 (sinh ngày. 02/10/1999 ở thôn H, xã N, thị xã A) đến quán cà phê “Tin Tin” của ông Cao Văn S2 (sinh ngày 18/9/1990 ở cùng thôn) để uống nước. Tại đây, S3 gặp Hồ Đào T1 (sinh ngày: 15/09/2004 ở cùng thôn Nguyễn Thanh H3 (sinh ngày 22/10/2004 ở thôn T, xã N đang uống nước. Thấy vậy, S3 hỏi: “Đánh bầu của không bay” thì tất cả đều đồng ý. Sĩ lấy 01 (một) bộ thau nhôm, 01 (một) bàn bầu của bằng nhựa, 03 (ba) hội bầu của bằng xốp có in hình linh vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nơi mà S3 đã chuẩn bị trước rồi cùng với T1 và H3 đi vào phòng bị a của quán để đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu của do S3 cầm cái. Cách thức đánh bạc như sau: Người cầm cái sẽ bỏ 03 hột bầu của có in hình linh vật: bầu, của tôm, cá, gà, nai vào 01 đĩa nhôm, lấy 01 thau nhôm dậy lên và xốc, người đánh bạc sẽ đặt cược sự xuất hiện của một trong 06 hình linh vật nêu trên, khi mở ra nếu xuất hiện hình linh vật trùng với hình đã đặt thì sẽ thắng, ngược lại sẽ thua, tỷ lệ thắng thua 1:1, nếu hình linh vật trong 01 lần lắc xuất hiện 02 hoặc 03 lần thì tỷ lệ thắng sẽ nhân với số lần xuất hiện. Một lúc sau, Đặng Văn H, Nguyễn Văn Q1 (sinh ngày 04/12/1995, ở thôn H, xã N) đến đánh bị a tại phòng bịa của quán. Tại đây, H và Q1 đánh bị a đến khoảng 23 giờ 00 phút thì H và Q1 tham gia đánh bạc cùng với S3, H3, T1. Sau đó, thì có Bùi Trung N (sinh ngày 05/05.2001). Bùi Trung D1 (sinh ngày 21/02/2004), Nguyễn Hữu N1 (sinh ngày 10/06/1999) cũng ở thôn H, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định và Lê Anh Q (sinh ngày 19/5/2001 ở thôn Đ, xã N) đến cùng tham gia đánh bạc. Cả nhóm đánh bạc đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 08/02/2024 thì bị Công an xã N phát hiện, bắt quả tang, tạm giữ tại sòng bạc số tiền 4.300.000đ, 01 bộ thau nhôm, 01 bàn bầu cua, 03 hột bầu cua và đưa về trụ sở Công an xã dể làm việc.
Đồ vật, tài liệu tạm giữ: Số tiền 4.300.000đ; 01 bộ thau, đĩa bằng nhôm; 01 bàn bầu cua bằng nhựa; 03 hột bằng xốp có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSAN ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Đặng Văn H4 từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung ngân sách số tiền 4.300.000đ;
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ thau, đĩa bằng nhoomn; 01 bàn bầu cua bằng nhựa; 03 hột bằng xốp in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn H đã khai nhận hành vi phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Khoản 21 giờ ngày 07/02/2024, Nguyễn Trung S3 đến quán cà phê “Tin Tin” của Cao Văn S2 uống nước thì S3 gặp Hồ Đào T1, Nguyễn Thanh H3 nên rủ đánh bầu cua, tất cả đồng ý. S3 lấy bộ bầu cua đã chuẩn bị cùng với T1, H3 đi vào phòng bi da của quán để đánh bầu cua do S3 cầm cái ăn thua bằng tiền. Một lúc sau, Đặng Văn H cùng Nguyễn Văn Q1 đến đánh bị da đến khoảng 23 giờ thì H và Q1 cùng tham gia đánh bầu cua thắng thua bằng tiền với S3, H3, T1. Sau đó, Bùi Trung N, Bùi Trung D1, Nguyễn Hữu N1 và Lê Anh Q đến cùng tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức bầu cua. Đến khoản 01 giờ 15 phút ngày 18/02/2024 Công an xã N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tiền đánh bạc 4.300.000đ và dụng cụ đánh bầu cua.
[3] Xét tính chất của vụ án và hành vi của bị cáo Đặng Văn H, thấy rằng: Bị cáo Đặng Văn H là một công dân trưởng thành có đủ năng lực hành vi đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xốc bầu cua với 08 đối tượng với tổng số tiền thu tại chiếu bạc là 4.300.000đ. Bị cáo là người đã bị Cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Đặng Văn H đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Văn H là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự với hình phạt tương xứng hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện.
[5] xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Đặng Văn H thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có 02 người con ở tuổi chưa thành niên là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tính giáo dục răn đe. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, còn có 02 con nhỏ, kinh tế gia đình khó khăn nên được miễn khấu trừ thu nhập.
[6] Đối với các đối tượng đã có hành vi tham gia đánh bạc: Nguyễn Trung S3, Hồ Đào T1, Nguyễn Thanh H3, Bùi Trung N, Bùi Trung D1, Nguyễn Hữu N1, Lê Anh Q và Nguyễn Văn Q1 có hành vi cùng với bị cáo Đặng Văn H đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua do S3 cầm cái với tổng số tiền thu tại chiếu bạc 4.300.000₫ dưới 5.000.000đ và chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng là có căn cứ đúng theo quy định pháp luật.
[7] Đối với đối tượng Cao Văn S2 mặc dù biết các đối tượng đánh bạc trái pháp luật trong quán mình quản lý nhưng mặc nhiên cho các đối tượng đánh bạc đã không thu lợi nên hành vi của S2 chư đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” theo Điều 322 của Bộ luật hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với đối tượng S2 là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã thu giữ: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 4.300.000 tiền Việt Nam Đồng; Tịch thu tiêu hủy 01 bàn bầu cua bằng nhựa; 01 bộ thau, đĩa bằng nhôm; 03 hột xốp có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai.
Toàn bộ vật chứng đã được Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn quyết định chuyển vật chứng từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22/4/2024
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/20216/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ quốc hội, buộc bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000₫.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 135, Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/20216/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ quốc hội
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Đánh bạc”
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã A nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Đặng Văn H cho UNBD xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ nhu nhập cho bị cáo Đặng Văn H.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 4.300.000 tiền Việt Nam Đồng đã chuyển giao Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn ngày 17/4/2024 nộp vào Khoa bạc Nhà nước thị xã A.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bàn bầu cua bằng nhựa; 01 bộ thau, đĩa bằng nhôm; 03 hột xốp có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai.
Toàn bộ vật chứng đã được Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn quyết định chuyển vật chứng từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22/4/2024.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000đ.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
6.2. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Quang |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Hơn phạm tội đánh bạc