Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày: 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC – TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và ông Lê Quang Chính.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Nhân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Văn Đ (Đe), sinh ngày 01-01-1978 tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng D, sinh năm 1954 và bà Lâm Thị M, sinh năm 1960; Vợ là Phạm Thị Ngọc X, sinh năm 1982; Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24-5-2024, bị Ủy ban nhân dân huyện N xử phạt hành chính số tiền 15.000.000 đồng về hành vi “Không đăng ký ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự", bị cáo đã chấp hành xong.

Hiện bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hán Dương Thu H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  2. Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
  3. Bà Lê Thị V, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt);
  4. Ông Thập Hồng D1, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt);
  5. Bà Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
  6. Bà Trần Thị L, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
  7. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Khu phố G, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt);
  8. Bà Trần Thị Kiều O, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
  9. Ông Nghiêm Minh H2, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt);
  10. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29-12-2023, Phòng C1 - Công an tỉnh N tiếp nhận tố giác tội phạm của chị H3 Dương Thu H đối với Đặng Văn Đ có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cụ thể như sau: Từ ngày 04-3-2022 và đến ngày 10-3-2022, Đ cho chị H vay số tiền tổng cộng 32.000.000 đồng với lãi suất từ 120%/năm đến 180%/năm. Đến nay, chị H3 Dương Thu H chưa trả số tiền gốc 32.000.000 đồng cho Đặng Văn Đ. Đối với số tiền lãi hàng tháng, chị H chuyển khoản cho Đ từ số tài khoản 61510000474590 (Ngân hàng B) của chị H đến số tài khoản là 108004576922 (Ngân hàng V1) của Đ, tổng số tiền lãi đã thu từ ngày 05/4/2022 đến ngày 26/12/2023 là 73.150.000 đồng, trong đó: Tổng số tiền lãi thu theo quy định của Bộ luật Dân sự 14.570.000 đồng, tổng số tiền lãi thu lợi bất chính là 58.580.000 đồng, cụ thể như sau:

Hình thức vay Thời gian vay Số tiền vay Số ngày trả Số tiền lãi Lãi suất/ngày Lãi suất/năm Lãi suất theo BLDS/năm Tiền lãi bất hợp pháp Lãi suất vượt (lần) Tổng số tiền thu lãi hợp pháp từ ngày 05-4-2022 đến ngày 26-12-2023 Tổng số tiền thu lãi bất hợp pháp từ ngày 05-4-2022 đến ngày 26-12-2023
Vay lãi tháng 04-03-2022 10.000.000 30 1.000.000 0,333333333 120 20 833.333 6 14.570.000 58.580.000
10-03-2022 22.000.000 30 1.000.000 0.5 180 20 2.933.333 9

Ngoài ra, trong năm 2022, 2023 Đặng Văn Đ còn cho 12 người dân khác trên địa bàn huyện T, N, Phan R - T vay tiền với lãi xuất từ 4% đến 8%/tháng, tương ứng từ 48% đến 96%/năm, với tổng số tiền gốc cho vay là 120.000.000 đồng, số lãi thu được là 3.550.000 đồng, cụ thể: Nghiêm Minh H2, số tiền: 5.000.000 đồng; Nguyễn Thị T1, số tiền: 20.000.000 đồng; Đỗ Thị Kim T2, số tiền 10.000.000 đồng; Trần Thị Đ1, số tiền 5.000.000 đồng Lê Thị V, số tiền: 5.000.000 đồng; Thập Thị D2, số tiền: 20.000.000 đồng; Trần Thị L, số tiền: 5.000.000 đồng; Phú Văn C, số tiền: 15.000.000 đồng: Nguyễn Thị Hồng G, số tiền: 5.000.000 đồng; Trần Thị Kim O1, số tiền: 10.000.000 đồng; Nguyễn Thị H4, số tiền: 5.000.000 đồng; Nguyễn Thị H1, số tiền: 15.000.000 đồng.

Tại phiên toà bị cáo Đặng Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và không kêu oan, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại Cáo trạng số 33/CT-VKS-HS ngày 05-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước đã truy tố Đặng Văn Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Đ (Đ) phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
  • Xử phạt bổ sung từ 30.000.000đ đến 40.000.000₫

Bị cáo không tranh luận gì; Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát xác định bà Lưu Thị Kim T3, bà Vạn Thị M1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nhưng những người trên không vay tiền của bị cáo Đặng Văn Đ hay tài sản thu hồi cũng không liên quan gì đến vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, hơn việc bà Vạn Thị M1 tố cáo bà Hán Dương Thu H5 Công an đã xử lý sau, vì vậy những người trên có quyền vụ khởi kiện vụ án dân sự hoặc gửi đơn tố giác đối hành vi của bà H3 Dương Thu H đến cơ quan có thẩm quyền, nên Hội đồng xét xử xác định bà Lưu Thị Kim T3, bà Vạn Thị M1 không phải người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Đối với vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét việc văng mặt của những người trên không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[3]. Về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo:

Xét lời khai của bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại cơ quan điều tra, cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đủ cơ cở kết luận như:

Đây là vụ án “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” do Đặng Văn Đ thực hiện. Đặng Văn Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn kiếm tiền hưởng lợi bất chính, nên từ ngày 18-02-2022 đến ngày 26-12-2023 Đặng Văn Đ đã cho 13 người dân vay tiền với số tiền từ 2.000.000đ đến 22.000.000đ, với hình thức trả lãi trong vòng 30 ngày, kể từ ngày vay. Đặng Văn Đ đã cho người dân vay tiền với lãi suất ngày là 04% tháng, tương ứng lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Đặng Văn Đ đã cho 13 người vay nhưng cơ quan Cảnh sát điều tra chứng minh được Đặng Văn Đ 01 người vay chị Hán Dương Thu H với lãi suất từ 120%/năm đến 180%/năm vượt 06 lần và 09 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự, cụ thể chị H vay tổng số tiền gốc 32.000.000đ, tổng số lãi đã thu được 73.150.000đ, số tiền lãi theo quy định 20% của Bộ luật Dân sự là 14.570.000đ, số tiền lãi bất hợp pháp mà Đặng Văn Đ thu lợi bất chính là 58.580.000đ.

Hành vi nêu trên của bị cáo, đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là có căn cứ.

[4]. Xác định nguyên nhân, lỗi, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Nguyên nhân bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xuất phát từ nhu cầu muốn hưởng lợi bất chính; hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; Tội phạm bị cáo thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất đến 03 năm cải tạo không giam giữ.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn Đ không có tình tiết tăng nặng.

[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt và chưa có tiền án, tiền sự.

[8]. Quyết định hình phạt chính đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tại địa phương. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đặng Văn Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[9]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng cho bị cáo Đặng Văn Đ.

[10]. Về xử lý vật chứng:

  • Tạm giữ tại Lưu Thị Kim T3 gồm: 03 (ba) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vạn Thị M1, địa chỉ: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, cụ thể: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vạn Thị M1 DK553224; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vạn Thị M1 DK553225; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vạn Thị M1 DK553223. Quá trình điều tra xác định khoảng tháng 6/2023, Hán Dương Thu H nhận trực tiếp từ bà Vạn Thị M1 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đính chính lại thông tin ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị sai (giấy chứng nhận ghi thôn T, sửa lại thành thôn H). Đến khoảng tháng 7/2023, do cần tiền để trả nợ nên H mượn của Bà Thị Ái L1, sinh năm 1986 (chị em họ với H) số tiền 60.000.000 đồng, thời gian mượn khoảng từ 10 đến 20 ngày, L1 đồng ý cho H mượn nhưng yêu cầu H đưa giấy tờ để “làm tin”. Do vậy, H tự nguyện, đồng ý đưa cho L1 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M1 mà mình đang cầm để làm tin vay tiền của L1. Đến khoảng đầu tháng 8/2023, do H không có tiền trả cho L1 nên L1 mượn của chị Lưu Thị Kim T3, sinh năm 1988, trú tại: thôn N, xã P, huyện N, Ninh Thuận số tiền 60.000.000 đồng để giải quyết việc gia đình và để “làm tin”, L1 đưa 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M1 mà H đã đưa trước đó cho chị T3 cầm làm tin. Chị H không biết việc bà L1 đưa 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M1 để cầm cố cho bà T3 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho bà M1 là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu S màu đen cầm ứng Đặng Văn Đ dùng để liên lạc cho chị H3 Dương Thu H thu tiền lãi, quá trình sử dụng đã bị hư hỏng Đ đã bán phế liệu, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
  • Đối với số tiền gốc 32.000.000đ Đặng Văn Đ đã cho chị H3 Dương Thu H vay, quá trình điều tra xác định đến nay H chưa trả số tiền này cho Đ, nên Hội đồng xét xử buộc bà H3 Dương Thu H nộp lại toàn bộ số tiền trên để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • Đối với số tiền lãi Đặng Văn Đ đã thu được từ việc cho bà Hán Dương Thu H vay là 73.150.000đ, trong đó số tiền lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự là 14.570.000đ, thu lợi bất chính số tiền là 58.280.000đ, quá trình điều tra xác định đây là tiền phát sinh từ hành vi phạm tội và thu lợi bất chính, nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Đặng Văn Đ nộp lại toàn bộ số tiền trên để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[11]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 46 của Bộ luật hình sự; Điều 123, Điều 131 và Điều 468 của Bộ luật dân sự:

  • Đối với bà Hán Dương Thu H Cơ quan điều tra đã làm việc bà H không yêu cầu bị cáo Đặng Văn Đ trả lại số tiền mà Đ đã thu lợi bất chính, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
  • Đối với 12 người vay tiền của Đặng Văn Đ trong năm 2022, 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành làm việc được 08 người vay mặc dù có vượt 20% theo quy định Bộ luật dân sự nhưng chưa vượt 05 lần nên không đủ định lượng để xử lý hình sự, cụ thể: Trần Thị Đ1, Lê Thị V, Thập Thị D2, Nguyễn Thị Hồng G, Trần Thị L, Nguyễn Thị H1, Trần Thị Kiều O, Nghiêm Minh H2 đều không có yêu cầu về dân sự và không yêu cầu Đ phải trả lại số lãi bất hợp pháp đã thu, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Riêng 04 người vay cụ thể: Nguyễn Thị H4, Phú Văn C, Đỗ Thị Kim T2, Nguyễn Thị T1 chưa xác định được địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chưa làm việc khi nào làm việc được có căn cứ sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
  • Đối với 12 người vay tiền trên địa bàn huyện T, N, Phan R - T vay tiền của Đ với lãi xuất từ 4% đến 8%/tháng, tương ứng từ 48% đến 96%/năm, với tổng số tiền gốc cho vay là 120.000.000 đồng, số lãi bất chính thu là 3.550.000 đồng. Qua điều tra xác định hành vi của Đặng Văn Đ thu lãi bất chính chưa đến 30.000.000 đồng, mặt khác Đông chưa có tiền án, tiền sự về hành vi cho vay lãi nặng nên chưa cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi của Đặng Văn Đ đã vi phạm điểm đ, khoản 4, Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31-12-2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình “điểm đ, khoản 4, Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31-12-2021 của Chính phủ quy định không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm có tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tách các tài liệu có liên quan đến Ủy ban nhân dân huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đặng Văn Đ về hành vi trên là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[12]. Về vấn đề khác: Ngày 27-12-2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và môi trường - Công an tỉnh N tiếp nhận đơn của bà Vạn Thị M1 tố cáo chị H3 Dương Thu H, sinh năm: 1984, trú tại: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận là cán bộ Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện N, về việc: Khoảng tháng 6/2023, chị H nhận trực tiếp từ gia đình bà M1 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Vạn Thị M1, cụ thể: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vạn Thị M1 DK553224; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vạn Thị M1 DK553225; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Vạn Thị M1 DK553223 để đính chính lại thông tin ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị sai (giấy chứng nhận ghi thôn T, sửa lại thành thôn H). Đến khoảng tháng 7-2023, do cần tiền để trả nợ nên chị H mượn của chị Bá Thị Ái L1, sinh năm 1986, trú tại: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (chị em họ với H) số tiền 60.000.000 đồng, thời gian mượn khoảng từ 10 đến 20 ngày, chị L1 đồng ý cho chị H mượn nhưng yêu cầu bà H đưa giấy tờ để “làm tin”. Do vậy, chị H tự nguyện, đồng ý đưa cho L1 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M1 mà mình đang cầm để đính chính thông tin để vay tiền của chị L1. Đến khoảng đầu tháng 8-2023, do H không có tiền trả cho chị L1 nên chị L1 mượn của chị Lưu Thị Kim T3, sinh năm: 1988, trú tại: thôn N, xã P, huyện N, Ninh Thuận số tiền 60.000.000 đồng để giải quyết việc gia đình và để “làm tin”, chị L1 đưa 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M1 mà H đã đưa trước đó cho chị T3 cầm làm tin. Chị H không biết việc chị L1 đưa 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M1 để cầm cố cho chị T3. Chị Bá Thị Ái L1 và chị Lưu Thị Kim T3 khi giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để cho vay tiền thì đều biết 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của bà Vạn Thị M1. Hiện nay, chị H chưa trả số tiền gốc 60.000.000 đồng mượn chị L1; chị L1 chưa trả tiền số tiền gốc 60.000.000 đồng mượn chị T3. Đối với việc chị Hán Dương Thu H có vay mượn tiền của chị Bá Thị Ái L1, số tiền 60.000.000 đồng và vay tiền của chị Lưu Thị Kim T3 số tiền 17.500.000 đồng. Hiện nay chị L1 và chị T3 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đang tiếp tục xác minh khi nào làm việc được có căn cứ sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[13]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn Đ 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

  • Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • + Buộc Đặng Văn Đ phải nộp số tiền phát sinh từ tội phạm và tiền thu lợi bất chính là 73.150.000đ (Trong đó 58.580.000đ tiền thu lợi bất chính và 14.570.000đ tiền lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự) để sung quỹ Nhà nước.
    • + Buộc bà H3 Dương Thu H phải nộp số tiền 32.000.000₫ (Ba mươi hai triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  • - Buộc bị cáo Đặng Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17-7-2024). Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Công an huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Bình

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hường Phạm Ngọc Minh

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger