Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẢNG TRỊ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày: 14 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Duyết và bà Nguyễn Thị Thu Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thuý Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Bát - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Đặng Thị T (tên gọi khác: X), sinh ngày 20 tháng 6 năm 1991, tại Thừa Thiên Huế; nơi thường trú: Khu phố B, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nơi ở hiện tại: Số B đường Q, Khu phố F, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hữu B, sinh năm 1957, chết năm 2006 và con bà Lê Thị T1, sinh năm 1958; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; chồng: Không xác định; con: có 01 con, sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 05/01/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 01/2016/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1965; địa chỉ: Khu phố F, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 15/5/2024, bị cáo Đặng Thị T đi bộ từ phòng trọ ở số B đường Q thuộc Khu phố F, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị đến khu vực đường T gần kênh thoát nước quán Q thuộc Phường C, thị xã Q, tìm gặp người đàn ông tên “Cu” mua 184 viên nén (gồm 181 viên ma túy màu hồng và 03 viên màu xanh) để trong 03 túi nilon (01 túi chứa 100 viên ma túy màu hồng và 02 viên màu xanh; 01 túi chứa 74 viên ma túy màu hồng; 01 túi chứa 07 viên ma túy màu hồng và 01 viên màu xanh) với giá 3.000.000 đồng, nhằm mục đích cất giấu để sử dụng. Mua được ma tuý, T về lại phòng trọ để 02 túi nilon (01 túi chứa 100 viên ma túy màu hồng và 02 viên màu xanh; 01 túi chứa 74 viên ma túy màu hồng) vào ngăn ngoài cùng của chiếc ba lô màu xanh treo trên móc quần áo ở bờ tường phía bên trái phòng trọ; 01 túi nilon chứa 08 viên, T lấy ra 05 viên ma tuý màu hồng cho vào 01 túi nilon trong suốt, dùng bật lửa hơ dán kín ở hai đầu, còn 02 viên ma tuý màu hồng và 01 viên màu xanh T để nguyên trong túi nilon và bỏ ở trên bàn. Sau đó, T cầm túi nilon có chứa 05 viên ma tuý màu hồng ở tay phải rồi đi bộ từ phòng trọ ra hướng đường Q, nhằm tìm địa điểm để sử dụng.

Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, tổ tuần tra của Công an thị xã Q tiến hành rà soát tuyến đường Q, khi đi vào Kiệt G đường Q thì thấy Đặng Thị T đang đi bộ từ trong Kiệt 70 ra đường Q. Lúc này, sợ bị kiểm tra nên T vứt từ trong tay phải 01 túi nilon trong suốt, bên trong có 05 viên ma tuý màu hồng xuống mặt đường của K 70 thì bị Tổ tuần tra phát hiện, bắt quả tang. Sau khi bắt T, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T và thu giữ 176 viên ma túy màu hồng và 03 viên nén màu xanh (01 túi chứa 100 viên ma túy màu hồng và 02 viên màu xanh; 01 túi chứa 74 viên ma túy màu hồng; 01 túi chứa 02 viên ma tuý màu hồng và 01 viên màu xanh) mà T đang cất giấu tại phòng trọ ở số B đường Q.

Tại bản Kết luận giám định số 600/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận:

  • 05 viên nén màu hồng được niêm trong túi niêm phong mã số NS3 2141775 gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 0,4576 gam.
  • 176 viên nén màu hồng được niêm trong túi niêm phong mã số NS3 2141792 gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 16,0406 gam.
  • 03 viên nén màu xanh được niêm trong túi niêm phong mã số NS3 2141792 gửi đến giám định có khối lượng mẫu là 0,2589 gam, không tìm thấy chất ma túy.

Như vậy, tổng khối lượng ma túy trong quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Thị T là 16,4982 gam.

- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • 181 viên ma tuý màu hồng, loại Methamphetamine.
  • 03 viên nén màu xanh.
  • 04 túi nilon.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, IMEI: 356740081675697, được gắn 01 thẻ sim vinaphone có dãy số 89840200011487613042.
  • 01 ba lô màu xanh, có quai đeo, đường viền màu vàng, kích thước (45x32) cm.

Xét thấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, IMEI: 356740081675697, được gắn 01 thẻ sim vinaphone có dãy số 89840200011487613042 không liên quan đến hành vi phạm tội của Đặng Thị T và không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án nên cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q đã trả lại cho T.

Những vật chứng còn lại chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị bảo quản, chờ xử lý.

Cáo trạng số 27/CT-VKSTXQT ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Đặng Thị T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị T từ 06 năm 06 tháng tù tháng đến 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/5/2024.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma tuý, bao gói hoàn lại sau giám định và 01 ba lô màu xanh, có quai đeo, đường viền màu vàng, kích thước (45x32) cm.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với các chứng cứ khách quan có trong hồ sơ vụ án như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, Cơ quan chức năng đã bắt quả tang bị cáo Đặng Thị T cầm túi nilon có chứa 05 viên ma túy khi đang đi bộ từ trong Kiệt 70 ra đường Q thuộc Khu phố F, Phường C, thị xã Q để tìm địa điểm sử dụng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T thu giữ thêm 176 viên ma túy mà bị cáo đang cất giấu tại phòng trọ ở số B đường Q. Tổng khối lượng ma túy thu được là 16,4982 gam loại Methamphetamine. Nguồn gốc số ma túy này là bị cáo mua của một người đàn ông tên “Cu” không rõ nhân thân, lý lịch với mục đích để sử dụng.

Nhận thấy bị cáo Đặng Thị T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật nhưng vì nhu cầu không chính đáng của bản thân đã mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị truy tố bị cáo Đặng Thị T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bố của bị cáo là ông Đặng Hữu B (đã chết) là người có công, được cấp giấy chứng nhận thương binh và hưởng chế độ thương tật theo tỉ lệ mất sức lao động 33%; ngoài ra cũng xem xét thêm cho bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 BLHS buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có không thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[5] Bị cáo Đặng Thị T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo chấp hành án.

[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma tuý, bao gói hoàn lại sau giám định và 01 ba lô màu xanh, có quai đeo, đường viền màu vàng, kích thước (45x32)cm.

Đối với các tài sản tạm giữ mà Cơ quan điều tra đã trả lại, bị cáo không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với người đàn ông tên “Cu”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đang tiếp tục xác minh, làm rõ người đã bán ma tuý cho T, khi có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

[8] Đối với bà Nguyễn Thị S - chủ nhà trọ ở số B đường Q thuộc Khu phố F, Phường C, thị xã Q, bà S không biết bị cáo T tàng trữ trái phép chất ma tuý trong khu vực mà mình nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thị T (tên gọi khác: X) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Đặng Thị T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 15/5/2024.
  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong có mã số QTS 600 được dán kín các mép và có chữ ký xác nhận của người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (một) túi niêm phong có mã số NS2A 066807 được dán kín các mép và có chữ ký xác nhận của người tham gia niêm phong đóng hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 (một) ba lô màu xanh, có quai đeo, đường viền màu vàng, kích thước 45x32 cm.

    Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị.

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Quảng Trị;

- VKSND tỉnh Quảng Trị;

- VKSND TX. Quảng Trị;

- Công an thị xã Quảng Trị (3 bản);

- Chi cục THA dân sự TX Quảng Trị;

- Sở Tư pháp T. Quảng Trị;

- Bộ phân hồ sơ nghiệp vụ Công an TXQT;

- Bị cáo; người có QLNVLQ;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Lê Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Thủy " Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger