Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày: 07/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ -TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Tình; ông Nguyễn Văn Thịnh.

Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà - Thư ký TAND huyện Thạch Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Hoàng, Kiểm sát viên.

Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số29/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

* Họ và tên: Lương Hữu T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19/5/1979 tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lương Hữu K; Sinh năm 1942 và bà: Nguyễn Thị H; Sinh năm 1943; A, chị em ruột: Có 08 người, bị cáo là con thứ sáu; Vợ: Nguyễn Thị T1; Sinh năm 1986 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, kể từ ngày 10/3/2024, (Có mặt).

* Bị hại: - Bà Trần Thị L; Sinh năm 1952; Mất ngày 10/01/2024; Nơi cư trú trước khi mất: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại Trần Thị L: Anh Nguyễn Hoành K1; Sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Có mặt).

2

* Người làm chứng: Anh Trần Hoàng D, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Hữu T làm nghề lao động tự do. Vào khoảng 05 giờ 15 phút ngày 10/01/2024, Lương Hữu T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38X1-045.79 (thuộc sở hữu của T), một mình xuất phát từ nhà ở xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đến huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để làm việc.

Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, Lương Hữu T điều khiển xe mô tô 38X1-045.79 di chuyển đến đoạn Km10+50 đường Q đoạn thành phố H, thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, theo hướng từ huyện C đi vòng xuyến xã T, huyện T. Sau khi dừng đèn đỏ tại ngã tư giao nhau giữa đường Q đoạn tránh thành phố H với đường ĐH.106, T điều khiển xe mô tô 38X1-045.79 tăng tốc, di chuyển trên làn đường trong cùng phía bên phải theo chiều di chuyển với tốc độ khoảng 50-60 km/h (theo lời khai của T). Lúc này, trời sáng sớm, còn tối, có sương mù nhẹ, T có bật đèn chiếu sáng của xe mô tô và chỉ quan sát về phía trước, giữ nguyên tốc độ di chuyển thẳng, không chú ý quan sát hai bên đường.

Cùng lúc này, bà Trần Thị L, sinh năm 1952, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh đang dắt bộ xe đạp một mình, đứng chờ tại phần đường bên phải đường Q đoạn tránh thành phố H theo hướng từ vòng xuyến xã T đi huyện C. Sau khi các phương tiện xe ô tô cùng chiều di chuyển qua, bà L đẩy bộ xe đạp, di chuyển qua đường (theo hướng từ trái qua phải so với chiều di chuyển của Lương Hữu T).

Do trước đó Lương Hữu T không chú ý quan sát nên đã không phát hiện thấy bà Trần Thị L đang đẩy bộ xe đạp như trên. Khi bà L đẩy bộ xe đạp đi đến làn đường mà T đang di chuyển, cách xe mô tô của T khoảng 3-4 mét thì T mới phát hiện. Lúc này, Lương Hữu T bóp phanh để tránh va chạm nhưng do khoảng cách quá gần nên bánh trước xe mô tô 38X1-045.79 do T điều khiển đã đâm vào khu vực hộp xích giữa thân xe bên phải xe đạp của bà Trần Thị L gây tai nạn giao thông. Hậu quả: bà Trần Thị L bị chấn thương nặng, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H nhưng đã tử vong cùng ngày, hai phương tiện bị hư hỏng.

Quá trình điều tra xác định, Lương Hữu T đã được cấp Giấy phép lái xe hạng A1, đủ điều kiện điều khiển xe mô tô 38X1-045.79 tham gia giao thông; trước khi xảy ra tai nạn giao thông (TNGT), T không sử dụng rượu, bia hay chất kích thích gì khác.

3

Tại CQCSĐT Công an huyện T, Lương Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 10/01/2024 của CQCSĐT Công an huyện T phản ánh:

Đoạn đường nơi xảy ra TNGT được xác định tại Km10+50 đường Q đoạn tránh thành phố H thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Dấu vết liên quan đến vụ tai nạn nằm bên phải đường Quốc lộ 1A đoạn tránh thành phố H theo hướng từ huyện C đi vòng xuyến xã T. Trên đường Q đoạn tránh thành phố H có vạch sơn kẻ đường màu vàng, dạng nét đứt, phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, mặt đường được rải nhựa bằng phẳng, thông thoáng, không bị che khuất tầm nhìn, mỗi phần đường có 02 làn đường, trong đó một làn rộng 3,5 mét, một làn rộng 2,0 mét và được phân cách nhau bằng vạch sơn kẻ đường màu trắng, dạng nét đứt. Ngoài ra, hai bên đường Q đoạn tránh thành phố H có lề đường bằng bê tông rộng 0,5 mét.

Tại phần đường bên phải đường Q đoạn tránh thành phố H theo hướng từ huyện C đi vòng xuyến xã T (khu vực phía trước vị trí xảy ra vụ tai nạn) không có biển báo hiệu giao thông đường bộ nào.

Lấy chân cột mốc được ký hiệu H1/10 nằm phía bên trái đường Q đoạn tránh thành phố H hướng từ huyện C đi vòng xuyến xã T tại đoạn đường xảy tai nạn làm điểm mốc. Lấy mép đường bên phải đường Q đoạn tránh thành phố H hướng từ huyện C đi vòng xuyến xã T tại đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn làm chuẩn. Hiện trường vụ TNGT được mô tả theo hướng từ huyện C đi vòng xuyến xã T và theo thứ tự các số được ký hiệu trên sơ đồ hiện trường như sau:

Từ điểm mốc đo đến điểm đầu vết cày xước thứ nhất trên hiện trường là 45 mét, vết cày xước thứ nhất được ký hiệu (1) trên sơ đồ hiện trường. Vết (1) nằm ở làn đường trong cùng (làn đường rộng 2,0 mét) bên phải đường Quốc lộ 1A đoạn tránh thành phố H hướng từ huyện C đi vòng xuyến xã T. Vết (1) có hai vết cày xước, dạng đứt quãng, màu trắng đục, chiều hướng từ huyện C đi vòng xuyến xã T, có chiều dài 14,7 mét, nơi vị trí rộng nhất có kích thước 0,02 mét, nơi vị trí nhỏ nhất là 0,01 mét. Từ điểm đầu vết (1) đo vào mép đường chuẩn là 1,7 mét, từ điểm cuối vết (1) đo vào mép đường chuẩn là 0,5 mét.

Từ điểm đầu vết (1) đo đến điểm đầu vết cày xước thứ hai trên hiện trường là 11,8 mét, vết cày xước thứ hai được ký hiệu (2) trên sơ đồ hiện trường. Vết (2) nằm làn đường trong cùng (làn đường rộng 2,0 mét) bên phải đường Quốc lộ 1A đoạn tránh thành phố H hướng từ huyện C đi vòng xuyến xã T, dạng một đường thẳng, đứt quãng, có màu trắng đục, dấu vết nhạt dần, có kích thước (1,7 x 0,01) mét. Từ điểm

4

đầu vết (2) đo vào mép đường chuẩn là 0,2 mét, điểm cuối vết (2) trùng với mép đường chuẩn.

Từ điểm đầu vết (2) đo đến tâm trục bánh sau xe đạp trên hiện trường là 2,7 mét, xe đạp được ký hiệu (3) trên sơ đồ hiện trường. Xe (3) là loại xe mini, dáng xe nữ, có màu xám, nằm ở lề đường phía bên phải đường Q đoạn tránh thành phố H theo chiều mô tả, dạng nghiêng đứng do phần đất thấp hơn lề bê tông, đã bị hư hỏng một số bộ phận. Từ tâm trục bánh sau xe (3) đo vào mép đường chuẩn là 0,8 mét, từ tâm trục bánh trước xe (3) đo vào mép đường chuẩn là 0,5 mét.

Từ điểm đầu vết (2) đo đến tâm bánh xe phía sau xe mô tô biển kiểm soát 38X1-045.79 là 2,9 mét, xe mô tô 38X1-045.79 được ký hiệu (4) trên sơ đồ hiện trường. Xe (4) trong trạng nằm ngã nghiêng sang bên trái, trên làn đường phía trong cùng (làn đường rộng 2,0 mét) phía bên phải của đường Quốc lộ 1A đoạn tránh thành phố H theo chiều mô tả. Xe (4) là có nhãn hiệu Honda Air Blade, màu trắng, đỏ, đen. Từ tâm trục bánh sau xe (4) đo vào mép đường chuẩn là 0,8 mét, từ tâm trục bánh trước xe (4) đo vào mép đường chuẩn là 0,4 mét.

Ngoài ra, tại hiện trường ghi nhận các mảnh vỡ nhựa xung quanh vị trí xe mô tô.

Tại các Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ TNGT lập ngày 10/01/2024 của CQCSĐT Công an huyện T phản ánh:

* Xe mô tô biển kiểm soát 38X1-045.79: Ốp tay nắm phía trước bung rời các chốt định vị, góc bên phải có dấu vết gãy vỡ nhựa, kích thước (17 x 16)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 100cm. Ốp tay nắm phía sau bị gãy bung rời các chốt định vị. Gương chiếu hậu phía bên trái bị vỡ hoàn toàn, mặt sau ốp nhựa có dấu vết mài trượt nhựa, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá), kích thước (6 x 8)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, tâm dấu vết cách mặt đất 110cm. Mặt nạ phía trước đầu xe bị gãy, bung rời khỏi phương tiện, góc bên phải mặt nạ bị bung rời, có dấu vết vỡ nhựa dài 10cm. Góc bên trái đèn chiếu sáng phía trước có dấu vết trượt xước nhựa, kích thước (10 x 6)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, tâm dấu vết cách mặt đất 68cm. Đèn xi nhan phía trước bên trái bị vỡ nhựa, kích thước (15 x 6)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 66cm. Ốp nhựa ở giữa đèn chiếu sáng và đèn xin nhan phía trước bên trái có dấu vết trượt xước nhựa, bám dính chất màu đen (dạng trượt cao su), kích thước (10 x 3)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, tâm dấu vết cách mặt đất 62cm. Góc bên phải cung trước, chắn bùn phía trước bị gãy vỡ nhựa, kích thước (10 x 3)cm. Mặt lăn, má lốp bên trái bánh xe phía trước (tại vị trí cách chân van 11cm theo chiều ngược kim đồng hồ) có dấu vết trượt xước nhựa cao su, bám dính dầu mỡ, kích thước (30 x 13)cm; vành bánh xe này bị móp méo, kích thước (7 x 1)cm.

5

Mặt ngoài bàn để chân phía trước bên trái bị trượt xước nhựa, kích thước (30 x 3)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Mặt dưới giá để chân phía sau bên trái có dấu vết mài, trượt kim loại dính chất màu trắng (dạng bột đá), kích thước (8 x 2)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Góc bên trái chân chống giữa có dấu vết mài mòn kim loại, bám dính chất màu trắng, dạng bột đá, kích thước (2 x 1)cm.

- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh, còi, đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, hệ thống chuyển động hoạt động bình thường. Xe mô tô vẫn hoạt động được.

* Xe đạp mini (không có nhãn hiệu): Càng xe phía trước bên phải bị cong gập theo chiều hướng từ trái qua phải. Trục bánh phía trước bên trái bị bung rời khỏi càng xe. Đinh, ốc trục bánh trước bên trái bị trượt xước kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá), kích thước (1 x 0,5)cm. Khung xe tại vị trí đầu mút phía trước chắn bùn phía sau bị gãy, cong gập, kích thước (3 x 6)cm, chiều hướng cong gập từ trái qua phải. Hộp xích nơi vị trí trục bàn đạp bị móp méo, cong gập, kích thước (10 x 19cm), chiều hướng từ phải sang trái, nắp hộp xích bị bung rời khỏi vị trí ban đầu. Khung xe bên trái tại vị trí phía dưới yên xe 20cm có dấu vết trượt xước sơn, kích thước (6 x 0,5)cm. Má lốp bên phải bánh sau, tại vị trí cách chân van 60cm theo chiều chuyển động tiến, có dấu vết trượt xước cao su, kích thước (6 x 3)cm. Góc phía sau bên trái yên xe có dấu vết mài trượt cao su, kích thước (12 x 6)cm. Đầu mút bàn đạp bên trái có dấu vết mài trượt nhựa, bám dính đất, lá cỏ, kích thước (7 x 3)cm. Góc bên phải chân chống phía sau bị bung rời chốt cố định. Tại vị trí người ngồi sau có các bìa cattong, bao bì.

- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Phanh sau đang hoạt động bình thường. Hệ thống chuyển động không thể hoạt động. Xe không còn hoạt động được.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 214/KLGĐ ngày 18/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H, kết luận: Tử thi là bà Trần Thị L, sinh năm 1953, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

- Khám ngoài: Vùng thái dương đỉnh phải có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước (8 x 8)cm, trên nền sưng nề có vết thương dài 6cm. Vùng ngực ngay đầu trong xương đòn phải có vết xây xát da không liên tục trên diện (3 x 2)cm. Gãy sập khung chậu bên phải. Gãy kín 1/3 trên xương đùi phải. Mặt ngoài gối phải có vết xây xát da, kích thước (4 x 2)cm.

- Khám trong (giải phẫu vùng đầu): Tụ máu dưới da đầu vùng thái dương đỉnh phải; Xương hộp sọ không tổn thương.

Kết luận: Nguyên nhân chết của bà Trần Thị L: Đa chấn thương. Cơ chế hình thành các dấu vết tổn thương trên cơ thể bà Trần Thị L là do vật tày gây nên.

6

Tại Bản kết luận giám định dấu vết cơ học số 271/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 38X1-045.79 và xe đạp có va chạm với nhau. Bánh trước xe mô tô với hộp xích xe đạp là vị trí va chạm. Hai phương tiện va chạm vuông góc với nhau.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Tổng giá trị thiệt hại: 3.050.000 đồng, trong đó: xe mô tô 38X1-045.79 bị thiệt hại: 2.750.000 đồng; xe đạp bị thiệt hại: 300.000 đồng.

Vật chứng, tài liệu thu giữ, gồm:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiêu Honda, số loại: Air Blade, màu trắng đỏ đen, mang BKS: 38X1-045.79, số khung: BY256584, số máy: 1048402, đã qua sử dụng, đã bị hư hỏng (kèm Giấy đăng ký xe mang tên Lương Hữu T);
  • - 01 xe đạp (không nhãn hiệu), màu xám, dạng xe mini, dáng nữ, đã qua sử dụng, đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông;
  • - 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Lương Hữu T;
  • - 01 đĩa DVD lưu giữ 01 video từ Camera của Cây xăng H nơi đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông nói trên.

Ngày 06/03/2024, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, CQCSĐT Công an huyện T đã trả lại xe mô tô 38X1-045.79 nói trên cho chủ sở hữu Lương Hữu T; trả lại chiếc xe đạp (không nhãn hiệu) nói trên cho người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu là anh Nguyễn Hoành K1, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh

Đối với giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lương Hữu T và 01 đĩa DVD chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Lương Hữu T đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bà Trần Thị L tổng số tiền là 180.000.000 đồng, gồm chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và các khoản chi phí khác có liên quan. Gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường gì khác. Đối với thiệt hại tài sản của xe mô tô 38X1-045.79 và chiếc xe đạp, chủ sở hữu tài sản không có yêu cầu bồi thường gì, xin tự chịu trách nhiệm sửa chữa.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số 34/CT- VKSTH, ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố bị cáo Lương Hữu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

7

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Hữu T từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình quản lý trong thời gian thử thách; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Trả lại cho bị cáo Lương Hữu T 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lương Hữu T. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lương Hữu T: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo rất ăn năn, hối cải và xin HĐXX xử phạt mức hình phạt nhẹ nhất và được cải tạo tại địa phương; bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và hứa từ nay về sau sẽ không vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Vì vậy, HĐXX khẳng định quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Khoảng 06 giờ ngày 10/01/2024, tại Km 10+50 đường Q đoạn tránh thành phố H, thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Lương Hữu T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38X1-045.79 tham gia giao thông đường bộ nhưng đã không giảm tốc độ đến mức đảm bảo an toàn khi có người đi bộ qua đường và trong điều kiện có sương mù nên xe mô tô biển kiểm soát 38X1-045.79 do T điều khiển đã đâm vào chiếc xe đạp do bà Trần Thị L, sinh năm 1953, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh đang đi bộ dắt qua đường, gây nên TNGT làm bà L bị tử vong, gây thiệt hại về tài sản cho người khác 300.000 đồng. Đây là vụ tai nạn giao thông có lỗi hỗn hợp, trong đó lỗi chính thuộc về bị cáo Lương Hữu T.

8

Hành vi của Lương Hữu T đã vi phạm khoản 4, Điều 11 Luật giao thông đường bộ, quy định về “Chấp hành báo hiệu đường bộ”; khoản 6, khoản 11 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về “Các trường hợp phải giảm tốc độ”, gây hậu quả là “làm chết người”. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo về các tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật

[3]. Về các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại điều 52 BLHS.

[3.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ”, theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người bị hại cũng có lỗi và đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Lương Hữu T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên nhân dẫn đến vụ TNGT nói trên là do Lương Hữu T trong quá trình điều khiển điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38X1-045.79 tham gia giao thông đường bộ nhưng đã không giảm tốc độ đến mức đảm bảo an toàn khi có người đi bộ qua đường và trong điều kiện có sương mù dẫn đến gây TNGT làm bà Trần Thị L bị tử vong và gây thiệt hại về tài sản cho người khác tổng 300.000 đồng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, hành phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bên cạnh đó, thấy rằng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn khai báo thành khẩn, ăn năn về hành vi phạm tội của mình; bị cáo không có tiền án, tiền sự, sau khi tai nạn xẩy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ thiệt hại cho gia đình bị hại. Ngoài ra, vụ án xảy ra do lỗi hỗn hợp, bị hại là bà Trần Thị L cũng có một phần lỗi khi dắt bộ xe đạp đi qua đường tại nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ nhưng chưa quan sát hết các xe đang đi tới nên đã qua đường không đảm bảo an toàn, hành vi của bà L vi phạm vào khoản 2, khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ, quy định về “Người đi bộ”, quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để từ đó xem xét giảm nhẹ

9

một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đã bồi thường số tiền lớn cho gia đình bị hại so với mức thu nhập của bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ TNGT này, do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại. Hiện nay đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[7]. Về xử lý vật chứng: Ngoài số vật chứng vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý theo thẩm quyền, hiện nay còn có: 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Lương Hữu T. HĐXX xét thấy đây là vật chứng chứng minh định khung hình phạt, do đó trả lại cho bị cáo Lương Hữu T.

[8]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Hữu T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/6/2024).

Giao bị cáo Lương Hữu T cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lương Hữu T 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Lương Hữu T.

10

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử buộc bị cáo Lương Hữu T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS, bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Công an huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Thạch Hà;
  • - Bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Văn phòng Tòa án (Để công bố)
  • - Lưu HSVA + VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Luong Huu T điều khiển mô tô gây tai nạn chết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger