Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25-4-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Thìn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Liêm.
  2. Bà Cao Thị Diệu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị T, sinh năm 1992.
  2. Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình.

  3. Bị đơn: Anh Châu Ngọc P, sinh năm 1980.
  4. Địa chỉ: Số D, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Chị Cao Thị T và anh Châu Ngọc P vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Cao Thị T trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh P tự tìm hiểu nhau vào năm 2016, sống chung vợ chồng từ khoảng cuối năm 2016, có đăng ký kết hôn ngày 14/4/2017 tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà mẹ ruột anh P, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn như thường xuyên gây gỗ, có lần anh P đánh chị T; nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ đầu năm 2023 chị T về nhà cha mẹ ruột sinh sống, cũng từ thời gian này vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau đến nay.
  • Nay chị T nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh P, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, hôn nhân không còn hạnh phúc, nên yêu cầu ly hôn anh P.
  • Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Châu Quốc T1, sinh ngày 10/10/2017, hiện cháu T1 đang sống với anh P. Khi ly hôn chị T đồng ý giao cháu T1 cho anh P chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi cháu T1.
  • Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Châu Ngọc P trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian tìm hiểu, chung sống vợ chồng, đăng ký kết hôn và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc ly hôn anh P thống nhất theo lời trình bày của chị T. Nay anh P nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với chị T, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh P đồng ý ly hôn chị T.
  • Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Châu Quốc T1, sinh ngày 10/10/2017, hiện cháu T1 đang sống với anh P. Khi ly hôn anh P yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và anh P không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi cháu T1.
  • Về chia tài sản chung và nợ chung: Anh P xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

  • Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như nguyên đơn, bị đơn đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị T. Chị Cao Thị T ly hôn anh Châu Ngọc P.
  • Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung tên Châu Quốc T1, sinh ngày 10/10/2017 cho anh Châu Ngọc P chăm sóc nuôi dưỡng, hiện con chung đang sống chung với anh P, chị T không cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về chia tài sản chung và nợ chung: Do chị T và anh P xác định là không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Chị T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • Nguyên đơn chị Cao Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Châu Ngọc P là loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Chị Cao Thị T, anh Châu Ngọc P vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị T, anh P theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

  • Về hôn nhân: Chị T và anh P chung sống vợ chồng từ khoảng cuối năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 14/4/2017 tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P được xác định là hôn nhân hợp pháp.
  • Chị T và anh P đều thừa nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà mẹ ruột anh P, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn như thường xuyên gây gỗ, có lần anh P đánh chị T; nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ đầu năm 2023 chị T về nhà cha mẹ ruột sinh sống, cũng từ thời gian này vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau đến nay.

Tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau..."

Và tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...".

Từ đầu năm 2023 đến nay chị T, anh P sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lo lắng cho nhau. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án cũng đã động viên chị T hàn gắn tình cảm, đoàn tụ vợ chồng, nhưng chị T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn và anh P cũng đồng ý ly hôn chị T.

Vì vậy, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị T, anh P đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm chăm sóc nhau. Nếu chị T, anh P đoàn tụ tiếp tục chung sống thì cũng không có hạnh phúc. Do đó, xét thấy việc chị T yêu cầu được ly hôn anh P là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  • Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện cháu Châu Quốc T1 đang có cuộc sống ổn định với anh P. Anh P chăm sóc nuôi dưỡng cháu tốt; chị T, anh P cũng thống nhất việc giao con chung cho anh P chăm sóc nuôi dưỡng khi ly hôn.

Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Châu Quốc T1 cho anh P chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với yêu cầu của chị T, anh P, đúng quy định pháp luật và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho cháu trong sinh hoạt, học tập. Chị T được quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh P không có yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  • Về chia tài sản chung và nợ chung: Do chị T, anh P xác định là không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Cao Thị T phải chịu toàn bộ tiền án phí sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.

[4] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 264, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị T. Cho chị Cao Thị T ly hôn anh Châu Ngọc P.
  2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
    • Anh Châu Ngọc P được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Châu Quốc T1, sinh ngày 10/10/2017, hiện cháu T1 đang sống với anh P.
    • Anh Châu Ngọc P không có yêu cầu chị Cao Thị T cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn trong vụ án này, nên không xem xét.
    • Chị Cao Thị T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
  3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Do chị Cao Thị T và anh Châu Ngọc P xác định là không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Cao Thị T nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị T đã nộp ngày 19/3/2024 theo biên lai thu số 0004038 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND TP. Sa Đéc;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
  • - UBND xã An Hiệp (ĐKKH Số 580/TP-HT, Quyển số 03/2002, ngày 10/6/1993);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Minh Thìn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2023/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 30/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn anh P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger