Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-4-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Thanh Tâm;
  2. Ông Nguyễn Văn Hẩn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phan Văn Anh P, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Nghiêm Thị Phương D, sinh năm 1995; nơi cư trú: Janlan . M.3, Kampung Muhibbah, 58200 K- PerseKutuan Kualalumpur A-07-01; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09-8-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phan Văn Anh P trình bày:

Anh và chị Nghiêm Thị Phương D tự nguyên chung sống với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T (nay là Thị xã T), tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống đến năm 2019 phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn; chị D đi xuất khẩu lao động tại nước Malaysia; vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay; không liên lạc với nhau. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống nên anh yêu cầu ly hôn với chị D.

Về con chung: Vợ chồng có con chung Phan Nghiêm Phương N, sinh ngày 03-12-2016; đang sinh sống cùng chị D. Anh đồng ý giao con chung cho chị D nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 09-8-2023 (bút lục số 07, số H) chị Nghiêm Thị Phương D trình bày:

Chị thống nhất về thời gian chung sống, kết hôn và ly thân như anh Phan Văn Anh P trình bày; chị đồng ý ly hôn với anh P; yêu cầu được nuôi con chung Phan Nghiêm Phương N, sinh ngày 03-12-2016; không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phan Văn Anh P đối với chị Nghiêm Thị Phương D; giao con chung Phan Nghiêm Phương N, sinh ngày 03-12-2016 cho chị D nuôi dưỡng; ghi nhận chị D không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết; đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã thu lý vụ án số 27/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023, giữa nguyên đơn là anh Phan Văn Anh P và bị đơn là chị Nghiêm Thị Phương D; anh P có đơn yêu cầu Toà án nơi mình cư trú giải quyết. Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh ban hành quyết định số 01/2023/QĐ-TA ngày 09-11-2023 chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết; là có căn cứ theo quy định tại Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 40 và Điều 41 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Anh P và chị D tự nguyện chung sống với nhau năm 2015; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh; đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay; không ai tìm cách giải quyết, hàn gắn. Như vậy, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh P đối với chị D là có căn cứ theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: Con chung Phan Nghiêm Phương N, sinh ngày 03-12-2016, đang sinh sống cùng chị D; các đương sự đều thống nhất giao con chung cho chị D nuôi dưỡng; chị D không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung; nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh P phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phan Văn Anh P đối với chị Nghiêm Thị Phương D.

Anh P, chị D không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.

2. Về con chung: Chị Nghiêm Thị Phương D được trực tiếp nuôi con chung Phan Nghiêm Phương N, sinh ngày 03-12-2016.

Ghi nhận chị D không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh P được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Anh Phan Văn Anh P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh theo Biên lai thu số 0018031 ngày 04 tháng 10 năm 2023; (anh P đã nộp xong án phí).

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh theo thời hạn như sau:

6.1. Anh Phan Văn Anh P được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

6.2. Chị Nghiêm Thị Phương D được kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh;
  • - UBND Phước Lưu, T.X Trảng Bàng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Tòa HNGĐ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thanh Tòng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh và chị Nghiêm Thị Phương Dung tự nguyên chung sống với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phước Lưu, huyện Trảng Bàng (nay là Thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống đến năm 2019 phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn; chị Dung đi xuất khẩu lao động tại nước Malaysia; vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay; không liên lạc với nhau. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống nên anh yêu cầu ly hôn với chị Dung. Về con chung: Vợ chồng có con chung Phan Nghiêm Phương Nghi, sinh ngày 03-12-2016; đang sinh sống cùng chị Dung. Anh đồng ý giao con chung cho chị Dung nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger