TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-PT.
Ngày 15/8/2024.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Ông Nguyễn Gia Lương
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 15/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 27/2024/TLPT-HNGĐ ngày 17/6/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn” do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 24/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 33/2024/QĐ-PT ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Dương Thị N, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị N: Bà Dương Thị T sinh năm 1954;
địa chỉ: Thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1982. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1944 (có mặt)
- Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1956 (có mặt)
1
Cùng địa chỉ: thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn N2: Bà Giáp Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. (có mặt)
* Người kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H, ông Nguyễn Văn N2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/8/2023, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên tòa chị Dương Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N1 kết hôn ngày 12/12/2006, trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Y. Sau khi kết hôn xong chị và N1 ở trọ trong miền nam để làm ăn sinh sống, ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2010 thì vợ chồng chị về xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang chung sống cùng bố mẹ chồng một thời gian ngắn. Đến năm 2012 vợ chồng ra ở giêng tại Thôn N, xã Q, huyện Y. Sau đó chị đi lao động ở Hàn Quốc. Trong quá trình ở Hàn Quốc chị có gửi tiền về để cùng chồng xây nhà tại Thôn V, xã Q vì bố mẹ chồng chị bảo cho vợ chồng chị xây nhà trên đất của bố mẹ chồng tại Thôn V, xã Q. Năm 2017 xây nhà xong thì chị về việt N1 sinh sống cùng anh N1, vợ chồng chị sinh sống trên nhà 02 tầng xây trên đất của bố mẹ chồng chị tại Thôn V, xã Q trên. Đến năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, hai bên thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không cùng quan điểm sống trong việc phát triển kinh tế gia đình cũng như việc nuôi dậy con cái.
Đầu năm 2023 thì mâu thuẫn vợ chồng lên đến đỉnh điểm, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang sinh sống và ly thân với anh N1 từ đó cho đến nay. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn N1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn H2, sinh ngày 27/9/2007 và cháu Nguyễn Ánh N3, sinh ngày 13/12/2020. Hiện nay cháu H2 đang ở với anh N1, cháu N3 đang ở chị. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu N3 cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với cháu H2 chị đề nghị Tòa án giao cho anh N1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị và anh N1 có tài sản chung là 01 ngôi nhà 2 tầng tại thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, diện tích sàn tầng 1 là khoảng 105m², diện tích sàn tầng 2 là khoảng 85m², công trình gồm bếp, nhà vệ sinh khép kín. Khi xây nhà 02 tầng trên thì chị đang ở nước ngoài, chị gửi tiền về cùng với anh N1 để xây nhà. Đến năm 2017 thì chị về nước và sinh sống trên nhà vợ chồng chị xây. Vì nhà 02 tầng xây trên đất của bố mẹ chồng chị là ông Nguyễn Văn N2
2
và bà Hoàng Thị H nên chị đề nghị Tòa án giao nhà đất cho ông N2 bà H quản lý, sử dụng. Ông N2 bà H có trách nhiệm trích trả chị và anh N1 giá trị căn nhà bằng tiền, cụ thể mỗi người ½ giá trị nhà. Về phần anh N1 có yêu cầu ông N2 bà H phải trích trả anh N1 tiền nhà hay không thì là quyền của anh N1, chị không có ý kiến gì. Về phần chị, chị yêu cầu ông N2 bà H phải trích trả chị ½ giá trị nhà, chị nhận bằng tiền.
Ông N2 bà H là bố mẹ chồng chị có trình bày là khi ông N2 bà H cho anh N1 và chị xây nhà 02 tầng trên đất của ông bà thì anh chị có xin phép ông bà đập nhà cấp 4 bốn gian, 02 gian nhà ăn, công trình khép kín và sân gạch cũ của ông N2 bà H đi và hứa sau này xây nhà 02 tầng xong sẽ cho ông N2 bà H lên ở tầng 2 và thờ cúng tổ tiên là không đúng sự thật. Nay, ông N2 bà H3 yêu cầu chị và anh N1 phải trả cho ông N2 bà H tầng 2 nhà 02 tầng của anh chị để ở thì quan điểm của chị là chị không nhất trí vì khi ông N2 bà H cho anh chị xây nhà trên đất của ông bà thì ông bà tự phá đi nhà cấp 4 bốn gian, 02 gian nhà ăn, công trình khép kín và sân gạch cũ của ông bà đi và anh chị cũng không hứa hẹn gì với ông bà cả.
Về đất để xây nhà trên thì là của bố mẹ chồng chị, mang tên bố mẹ chồng chị là ông Nguyễn Văn N2 và bà Hoàng Thị H, chị không có yêu cầu gì về việc chia đất.
Về công nợ: Chị và anh N1 không có nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn N1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Dương Thị N kết hôn ngày 12/12/2006 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Y. Sau khi kết hôn anh và chị N vào trong miền nam sinh sống, sinh được một cháu 04 tháng tuổi thì gửi ra Bắc Giang cho ông bà nội nuôi. Đến năm 2010 thì hai vợ chồng anh về Bắc Giang sinh sống. Đến năm 2017 thì vợ chồng anh xây nhà trên đất của bố mẹ anh, anh và chị N ở trên nhà đất đó. Anh và chị N chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Từ khoảng tháng 01 năm 2023 chị N đi nước ngoài, vài tháng sau có về Việt Nam sinh sống hẳn nhưng không về chung sống ở cùng với anh nữa. Vợ chồng ly thân từ tháng 1 năm 2023 đến nay, từ khi đi chị N không liên lạc về hỏi thăm anh. Hiện nay chị N đang ở nhà bố mẹ đẻ chị N ở xã T, thành phố B. Nay, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị N xin ly hôn anh, anh không đồng ý. Anh mong muốn Tòa án hòa giải cho vợ chồng anh về đoàn tụ với nhau.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn H2, sinh ngày 27/9/2007 và cháu Nguyễn Ánh N3, sinh ngày 13/12/2020 . Hiện nay cháu H2 ở với anh, cháu N3 ở với chị N. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho chị N ly hôn anh, anh đề nghị Tòa án giao cháu H2 cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với cháu N3 đề nghị Tòa án giao cho chị N trực tiếp chăm sóc,
3
nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh có tài sản chung là 01 nhà 02 tầng, diện tích sàn tầng 1 khoảng 105m², sàn tầng 2 khoảng 85m² và công trình gồm bếp, nhà vệ sinh khép kín như chị N trình bày là đúng. Nhà 02 tầng và công trình gồm bếp, nhà vệ sinh khép kín xây tại thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, xây trên thửa đất số 149, tờ bản đồ 51, diện tích 497,5 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố mẹ anh là ông Nguyễn Văn N2 và bà Hoàng Thị H.
Ly hôn, chị N đề nghị giao nhà đất trên cho bố mẹ anh là ông N2,bà H quản lý, sử dụng. Ông N2 bà H có trách nhiệm trích trả chị N ½ giá trị nhà nhưng chị N nhận bằng tiền thì quan điểm của anh là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về phần quyền lợi của anh, trường hợp Tòa án giao nhà đất cho bố mẹ anh quản lý, sử dụng thì anh không yêu cầu bố mẹ anh phải trích trả anh tiền nhà. Tòa án đã giải thích cho anh được quyền yêu cầu bố mẹ anh trích chia tiền nhà cho anh nhưng anh không có yêu cầu, đề nghị gì.
Ông N2 bà H là bố mẹ anh có trình bày là khi bố mẹ anh cho anh và chị N xây nhà 02 tầng trên đất của bố mẹ anh thì anh chị có xin phép bố mẹ đập nhà cấp 4 bốn gian, 02 gian nhà ăn, công trình khép kín và sân gạch cũ của bố mẹ anh đi và hứa sau này xây nhà 02 tầng xong sẽ cho bố mẹ lên ở tầng 2 và thờ cúng tổ tiên là đúng. Nay, bố mẹ anh yêu cầu anh và chị N phải trả cho bố mẹ anh tầng 2 để ở thì quan điểm của anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Về công nợ: Vợ chồng không có nợ chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Nguyễn Văn H2 trình bày: Cháu là con của bố Nguyễn Văn N1 và mẹ Dương Thị N. Hiện nay cháu đã nghỉ học, cháu đang ở cùng với bố N1 ở thôn V, xã Q, huyện Y. Cháu được biết bố mẹ cháu đang giải quyết ly hôn tại Tòa án, cháu không mong muốn bố mẹ ly hôn nhưng trong trường hợp bố mẹ cháu ly hôn cháu mong Tòa án xem xét cho cháu được ở với bố N1 vì bố cháu quan tâm, yêu thương cháu. Khi bố mẹ cháu xây nhà hai tầng thì cháu còn nhỏ, không có công sức đóng góp gì đối với tài sản này của bố mẹ cháu nên cháu không có yêu cầu đề nghị gì.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N2 và bà Hoàng Thị H thống nhất trình bày: Anh Nguyễn Văn N1 là con trai, chị Dương Thị N là dâu của ông bà. Về quan hệ hôn nhân và con chung giữa anh N1 và chị N thì ông bà không can thiệp gì.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh N1 chị N có một ngôi nhà hai tầng tại thôn V xã Q, huyện Y và công trình phụ gồm bếp và nhà vệ sinh khép kín là đúng. Ngôi nhà và công trình phụ khép kín xây trên thửa đất số 149, tờ bản đồ 51, diện tích 497,5m² của vợ chồng ông bà (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn N2, bà Hoàng Thị H). Tuy nhiên trước khi anh N1, chị N
4
xây dựng nhà trên đất của ông bà thì ông bà có nhà cấp 4 bốn gian, 02 gian nhà ăn, công trình khép kín và sân gạch. Trước khi chị N anh N1 xây nhà, ông bà không muốn phá công trình nhà cửa của ông bà đi nhưng chị N, anh N1 xin ông bà phá các công trình đi để xây nhà, khi nào xây xong chị N anh N1 sẽ cho vợ chồng ông bà tầng 2 để ở và thờ cúng. Tuy nhiên từ khi xây nhà xong đến nay chị N, anh N1 không bảo ông bà đến ở như đã nói.
Nay, chị N khởi kiện yêu cầu chia nhà 02 tầng trên đất của ông bà. Đề nghị nhận 1/2 giá trị nhà bằng tiền và đề nghị giao nhà đất cho ông bà quản lý, sử dụng thì ông bà không đồng ý. Ông bà đề nghị chị N, anh N1 chia thế nào thì chia, còn đất là của ông bà thì đề nghị giao đất cho ông bà. Về việc ông bà yêu cầu đòi chị N anh N1 phải trả cho ông bà tầng 2 nhà 02 tầng. Ông bà đã được Tòa án giải thích về nội dung này. Tòa án đã giải thích cho ông bà về quyền yêu cầu độc lập và gửi đơn khởi kiện đến Tòa án. Tòa án cũng đã giao quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ cho ông bà về việc nếu có yêu cầu độc lập đối với tầng 2 nhà 2 tầng thì phải làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhưng ông bà không làm, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Ông bà thừa nhận tài sản chung của anh N1, chị N là nhà 2 tầng xây trên đất của ông bà. Khi xây dựng thì ông bà không có công sức đóng góp gì vào nhà 02 tầng này cả, ông bà chỉ trông nom hộ nhưng đến nay ông bà không có yêu cầu trích chia công sức đóng góp gì đối với việc xây dựng ngôi nhà 02 tầng gì cả.
* Kết quả định giá tài sản: Tổng giá trị tài sản định giá là 706.831.000 đồng. Các đương sự đồng ý không ai có ý kiến gì.
* Với nội dung nêu trên, tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã quyết định: Xử:
Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 33, Điều 59, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn N1.
- Về con chung: Giao cho Dương Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Ánh N3, sinh ngày 13/12/2020; giao cho anh Nguyễn Văn N1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Văn H2, sinh ngày 27/9/2007.
5
Chị N anh N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung:
- Xác nhận 01 nhà hai tầng, tổng diện tích sàn 156,33 m², công trình phụ khép kín có địa chỉ tại thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là tài sản chung của chị Dương Thị N và anh Nguyễn Văn N1.
+ Giao nhà 02 tầng, tổng diện tích sàn 156,33 m², công trình phụ khép kín xây trên thửa đất số 149, tờ bản đồ số 51 mang tên ông Nguyễn Văn N2, bà Hoàng Thị H, địa chỉ tại Thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang cho ông Nguyễn Văn N2, bà Hoàng Thị H quản lý, sử dụng. Cụ thể ngôi nhà giao cho ông N2 bà H quản lý sử dụng là hình tứ giác ABDC ( có sơ đồ đo vẽ kèm theo).
+ Buộc ông Nguyễn Văn N2, bà Hoàng Thị H phải trả cho chị Dương Thị N số tiền là 353.415.500 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
* Ngày 06/5/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn N2, bà Hoàng Thị H có đơn kháng cáo phần tài sản của bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm vì ông bà không nhận nhà của anh N1 chị N và không đồng ý trả tiền cho chị N. Tại phiên tòa phúc thẩm ông bà bổ sung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm với lý do:
- Chị N có ủy quyền cho bà T nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà T vào tham gia tố tụng trong vụ án là ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T.
- Tại đơn khởi kiện của chị N thể hiện: “đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của cháu H2”. Như vậy Tòa án cấp sơ thẩm không đưa cháu H2 vào tham gia tố tụng là ảnh hưởng đến quyền lợi của cháu H2.
- Bà T nhận ủy quyền của chị N trong việc ly hôn là không đúng quy định của pháp luật.
- Tòa án cấp sơ thẩm vừa lấy lời khai của anh N1 và vừa tiến hành thẩm định, định giá tài sản cùng 1 thời gian là ảnh hưởng đến quyền lợi của anh N1.
- Tòa án cấp sơ thẩm lấy lời khai của anh N1 nhưng lại do chị N ký biên bản là ảnh hưởng đến quyền lợi của anh N1.
- Biên bản làm việc với chính quyền địa phương (BL 76) thời gian bắt đầu tháng 1/2024 nhưng kết thúc vào tháng 1/2023
- Tòa án cấp sơ thẩm giao tài sản cho ông N2, bà H trong khi ông bà là người già không có tiền thanh toán cho chị N.
- Vụ án được xét xử năm 2024 nhưng trích yếu bản án ghi: Bản án số 08/2021.
6
- Quyết định xét xử được xử tại trụ sở Tòa án huyện Y nhưng thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa lại được mở tại trụ sở Tòa án tỉnh Bắc Giang, nhưng khi xét xử lại mở tại trụ sở Tòa án huyện Y.
- Nhiều biên bản làm việc, lấy lời khai không ghi rõ thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc biên bản.
* Tại phiên tòa phúc thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không rút đơn kháng cáo. Nguyên đơn chị N không rút yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Tòa án sơ thẩm chấp nhận việc ủy quyền giải quyết về tài sản, không ủy quyền về quan hệ hôn nhân của chị N là đúng quy định, việc tham gia của chị N tại quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa vẫn đảm bảo nên không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của chị N. Còn các nội dung khác Tòa án cấp sơ thẩm có 1 số thiếu xót và 1 số vi phạm như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N2 trình bày tại phiên tòa nhưng những thiếu xót này không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Do vậy việc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N2 đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 24/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang về việc chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn giữa chị N với anh N1.
Về án phí phúc thẩm: ông N2, bà H là người cao tuổi nên được miễn áp phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 08/2024/HNGĐ-ST ngày 24/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung giữa chị N với anh N1. Nội dung này các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật, HĐXX không xem xét giải quyết.
7
[2]. Xét nội dung kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn N2, bà Hoàng Thị H, Hội đồng xét xử thấy:
Quá trình giải quyết vụ án chị N, anh N1, ông N2, bà H đều xác định chị N, anh N1 có tài sản chung là 01 ngôi nhà 02 tầng và công trình phụ khép kín gồm bếp, nhà vệ sinh, trị giá là 706.831.000 đồng, xây trên thửa đất số 149, tờ bản đồ 51, diện tích 497,5 m²; địa chỉ tại thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn N2 và bà Hoàng Thị H. Tòa án sơ thẩm xác định thửa đất là của ông N2, bà H, xác định tài sản trên đất là tài sản chung của chị N anh N1 và chia tài sản chung cho anh chị là phù hợp.
Do tài sản được xây dựng trên thửa đất của ông N2, bà H nên chị N, anh N1 đều đề nghị giao nhà đất trên cho ông N2, bà H quản lý sử dụng và chị N đề nghị ông N2, bà H trả 1/2 giá trị tài sản cho chị. Anh N1 không đề nghị Tòa án giải quyết và Tòa án sơ thẩm đã giao toàn bộ nhà đất cho ông bà và buộc ông bà phải trả cho chị N 1/2 giá trị tài sản trên đất theo kết quả định giá là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh N1 và ông N2, bà H đề nghị giao tài sản là nhà trên đất cho anh N1, buộc anh N1 phải trả tiền cho chị N với lý do ông bà không có tiền để trả cho chị N. Đối với thửa đất số 149, tờ bản đồ 51, diện tích 497,5m² vẫn mang tên ông N2, bà H và ông bà không đồng ý cho anh N1. Đề nghị này của ông N2, bà H và anh N1 là không phù hợp và không thể thi hành án được nên không có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa chị N vắng mặt, chị N không kháng cáo bản án sơ thẩm tuy nhiên người đại diện theo ủy quyền của chị N là bà T trình bầy: Bà nhận ủy quyền giải quyết về tài sản của chị N. Chị N không có nhu cầu sử dụng tài sản là nhà đất trên và muốn nhận bằng tiền để chị N tạo lập chỗ ở mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ giao nhà đất trên cho chị N. Do vậy, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Giao nhà đất cho ông N2, bà H quản lý, sử dụng, ông N2, bà H phải có trả cho chị N 1/2 giá trị ngôi nhà nhà bằng tiền là 353.415.500 đồng.
[3]. Việc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cho ông N2 đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng Hội đồng xét xử thấy:
Quá trình giải quyết vụ án chị N có ủy quyền cho bà T, tại văn bản ủy quyền ngày 13/11/2023 chị N chỉ ủy quyền cho bà T giải quyết về tài sản, không ủy quyền giải quyết về quan hệ hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm chị N có mặt nên không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của chị N cũng không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của bà T.
Việc không đưa cháu H2 vào tham gia tố tụng Hội đồng xét xử thấy: Tại đơn khởi kiện của chị N thể hiện: “đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của cháu H2”. Đối với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N2 về việc Tòa án không đưa cháu Nguyễn Văn H2, sinh ngày 27/9/2007
8
vào tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử thấy: Đơn khởi kiện của chị N trình bày về phần con chung: Chị đề nghị hỏi nguyện vọng của cháu xem cháu mong muốn ở với ai. Tại biên bản lấy lời khai cháu H2 (BL 74) cháu trình bày: Cháu có nguyện vọng được ở với bố và cháu xác định tài sản là nhà trên đất là của bố mẹ cháu, cháu không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án không đưa cháu vào tham gia tố tụng. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm không đưa cháu H2 vào tham gia tố tụng và giải quyết giao cháu cho bố cháu là anh N1 nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi cho cháu H2 và đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm có 1 số vi phạm như: Nhiều biên bản làm việc, biên bản ghi lời khai không ghi rõ thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ghi được mở tại trụ sở Tòa án tỉnh Bắc Giang nhưng phiên tòa hoãn lại tại trụ sở Tòa án huyện Y lý do ông N2 bà H xin hoãn và khi xét xử vẫn mở lại tại trụ sở Tòa án huyện Y. Tuy nhiên việc xét xử sơ thẩm vẫn đảm bảo quyền lợi cho ông N2, bà H sau khi xử xong giao bản án cho ông bà và ông bà đã thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với nội dung Trích yếu số bản án ghi sai năm; vừa lấy lời khai của anh N1 vừa tiến hành thẩm định, định giá tài sản cùng 1 thời gian; khi lấy lời khai của anh N1 nhưng lại do chị N ký biên bản; biên bản làm việc với chính quyền địa phương (BL 76) thời gian bắt đầu tháng 1/2024 nhưng kết thúc vào tháng 1/2023, Hội đồng xét xử thấy: Việc sai xót này 1 phần lỗi do đánh máy và lỗi chính tả, những lỗi này là do cẩu thả của thẩm phán đã không xem xét kỹ khi thu thập tài liệu chứng cứ cũng như khi ban hành bản án. Việc sai xót này có vi phạm nhưng không ảnh hưởng gì đến bản chất nội dung của vụ án, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[4]. Từ những nội dung trên, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N2, bà Hoàng Thị H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm 08/2024/HNGĐ-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang về chia tài sản chung vợ chồng.
[5]. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, ông N2, bà H là người cao tuổi nên ông bà được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[6]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 59, 60 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
9
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N2 và bà Hoàng Thị H. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang về việc chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn giữa chị Dương Thị N với anh Nguyễn Văn N1.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N2, bà Hoàng Thị H được miễn án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
10
Bản án số 30/2024/HNGĐ-PT ngày 15/08/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nhung ly hôn, chia tài sản với Nam
