Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/DSST

Ngày: 10/6/2024

V/v: “Tranh chấp HĐ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Kình

2. Ông Nguyễn Văn Hoà

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Cán bộ TAND quận Hoàn Kiếm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 40/2024/TLST- DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST- DS ngày 2 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 39/2024/QĐST-HPT ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở: Số B, N, phường V, quận C, Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1); Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường V, quận C, Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T – Tổng giám đốc.

Uỷ quyền lại: Ông Nguyễn Thanh H – Nhân viên Công ty Q quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1); (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T1, sinh năm 1994; Thường trú tại: Số E T2 Đ phường Đ, phường N, Hải Phòng; Trú tại: Số A T, phường H, quận H, Hà Nội; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 8/6/2018 bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 có ký với Ngân hàng TMCP S – chi nhánh H1, Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Nguyễn Thị Quỳnh T1, ngân hàng đã đồng ý cấp 01 thẻ tín dụng số thẻ 486265-0854 với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất thẻ tại thời điểm ký được áp dụng là 2,15%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 57.423.887 đồng và mới chỉ thanh toán cho ngân hàng được số tiền 54.801.636 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/12/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng): Lãi suất quá hạn (2,6%x 150%)=3,9%/tháng. Lãi suất 2,6%/tháng được điều chỉnh áp dụng tại Thông báo số 2339/2019/QD-TTT ngày 6/8/2019.

Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu: Buộc bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 10/6/2024 trong đó nợ gốc: 11.812.859 đồng, nợ lãi quá hạn: 19.441.962 đồng, tổng cộng là 31.254.821 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 11/6/2024 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

* Bị đơn là bà Nguyễn Thị Quỳnh T1:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc và yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Nhưng bị đơn đều không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án nên Tòa án không lấy được lời khai cũng không hòa giải được. Tòa án đã tống đạt đúng quy định quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H tại phiên toà phát biểu ý kiến:

- Về thời hiệu và thẩm quyền: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thời hiệu và thẩm quyền theo quy định.

- Thẩm phán lập hồ sơ, xác minh, thu thập chứng cứ, tiến hành giao các văn bản tố tụng và tiến hành trình tự, thủ tục tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng tại phiên tòa đúng trình tự theo quy định của pháp luật.

- Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú, Toà án đã xác minh và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Đây là lần thứ 2 bị đơn vắng mặt tại phiên toà nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn

- Về việc giải quyết nội dung vụ án: Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 là có cơ sở nên đề nghị HĐXX chấn nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 8/6/2018, Ngân hàng và bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng. Do bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên xảy ra tranh chấp. Vì vậy xác định đây là vụ án dân sự về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 điều 26 BLTTDS. Bị đơn có địa chỉ cư trú hiện tại theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng là số 1 T, phường H, quận H, Hà Nội; theo cung cấp của Công an phường H, quận H, Hà Nội thì bà T1 hiện không còn sinh sống tại địa chỉ số A T, phường H, quận H, Hà Nội và đã chuyển đi nơi khác không rõ, Công an phường Đ, quận N, Hải Phòng cung cấp bà T1 có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Số E Đ phường Đ, N, Hải Phòng hiện không sinh sống tại địa chỉ đăng ký thường trú. Xét thấy bị đơn đã thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch dân sự mà không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 BLDS nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thì thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Toà án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Hoàn Kiếm. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.

* Về nội dung:

Xét tính hợp pháp của hợp đồng: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được các bên xác lập tự nguyện, không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 4 BLDS năm 2015. Về hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại điều 119 BLDS. Vì vậy Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 8/6/2018 giữa Ngân hàng và bà T1 xác định là hợp pháp và có hiệu lực theo quy định tại khoản 1 điều 401 BLDS kể từ thời điểm hợp đồng được giao kết, là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại khoản 2 điều 401 BLDS.

Xét quá trình thực hiện hợp đồng của các bên: Nguyên đơn đã thực hiện đúng hợp đồng, đã cấp thẻ tín dụng và hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng cho bà T1. Sau khi được cấp thẻ tín dụng kể từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 57.423.887 đồng và đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 54.801.636 đồng đồng. Bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/12/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là đúng với quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là đúng theo thoả thuận đã ký. Tính đến ngày 10/6/2024 bà T1 còn nợ Ngân hàng số tiền là 31.254.821 đồng: Trong đó nợ gốc là 11.812.859 đồng; nợ lãi là: 19.441.962 đồng.

Đối với yêu cầu tính lãi: Tại Điều 20, 22 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng quy định về lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn, cách thức tính lãi, quyết định về việc ban hành biểu phí dịch vụ thẻ phát hành tại Việt Nam của Ngân hàng và tóm tắt sao kê thể hiện quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận đã ký. Nên ngày 23/12/2020, Ngân hàng đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn là đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Ngoài ra, bà T1 còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 11/6/2024 đến khi thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng theo lãi suất quy định trong hợp đồng và không trái quy định của pháp luật.

Từ những phân tích đánh giá như trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 phải có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ cho nguyên đơn theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng ngày 8/6/2018".

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 4, Điều 119, Điều 401, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự

- Căn cứ các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 về việc thanh toán số tiền chậm trả theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng ngày 8/6/2018.

Buộc bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 10/6/2024 là 31.254.821 đồng (Ba mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi tư nghìn, tám trăm hai mươi mốt đồng); trong đó nợ gốc là 11.812.859 đồng; nợ lãi là: 19.441.962 đồng.

Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 11/6/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng và được điều chỉnh phù hợp với lãi suất cho vay của Ngân hàng theo từng thời kỳ nhưng không trái quy định của pháp luật, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.562.741 đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng).

Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí là 613.600 đồng (Sáu trăm mười ba nghìn sáu trăm đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006320 ngày 6/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, TP .

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND Tp. Hà Nội

- VKSND q. Hoàn Kiếm

- Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm.

- Các đương sự

- Lưu HS

- Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/DSST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 30/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S - Nguyễn Thị Quỳnh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger