Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 30/2024/DS-ST

Ngày 02/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Khương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Dương Quang Khánh.
  2. Bà Dương Kim Dung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phan Mai Hoa, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Sơn Cươl - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11/3/2024, ngày 26/4/2024, ngày 02/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2023/TLST-DS ngày 12/10/2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-DS ngày 19/01/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H. Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Bình D. Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
  • - Bị đơn: Bà Đặng Thị L. Nơi cư trú cuối cùng: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 22/8/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh). (vắng mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Đặng Văn B. Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
    2. Bà Nguyễn Thị C. Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 24/6/2022, bản tự khai ghi ngày 24/6/2022 của bà Nguyễn Thị H và trình bày của ông Lê Bình D tại phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị H có cho bà Đặng Thị L vay số tiền 150.000.000 đồng và 31 chỉ vàng 9999, tương đương 164.300.000 đồng (5.300.000 đồng/chỉ) với lãi suất 3.000.000 đồng/tháng. Vào năm 2015, do bà L có nguyện vọng đi nước ngoài lao động nên cha, mẹ bà L là ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị C cam kết trả gốc cho bà H trong vòng 10 năm nhưng ông B, bà C không thực hiện nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L trả số tiền gốc còn nợ là 150.000.000 đồng và 31 chỉ vàng loại 9999.

Tại phiên toà, phía bà Nguyễn Thị H thừa nhận bà Đặng Thị L đã trả được tổng cộng 89.000.000 đồng trong số tiền 150.000.000 đồng gốc đã vay và thay đổi yêu cầu khởi kiện thành yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L trả số tiền gốc còn nợ là 61.000.000 đồng và 31 chỉ vàng, loại vàng 9999.

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ sau: Bản chính Tờ cam kết (V/v: Nhận trả thay lãi suất, tiền và vàng) không ghi thời điểm lập, được Ban N, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng xác nhận ngày 14/5/2016; bản sao Biên nhận hỏi tiền và vàng ghi ngày 13/3/2014.

- Bà Đặng Thị L: Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì trong quá trình giải quyết vụ án.

- Theo trình bày của ông Đặng Văn B tại Biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 12/01/2024:

Con gái của ông Đặng Văn B và bà Nguyễn Thị C là bà Đặng Thị L có vay tiền của bà Nguyễn Thị H, nhưng không rõ bao nhiêu. Hàng năm, bà L có gửi tiền về để ông B, bà C trả cho bà H.

Ông B không có cam kết trả thay khoản nợ của bà L cho bà H và không có ký tên trong Tờ cam kết (V/v: Nhận trả thay lãi suất, tiền và vàng). Ông B, bà C không rõ chữ ký trong Biên bản hỏi tiền và vàng ghi ngày 13/3/2014 có phải là của bà L hay không.

- Theo trình bày của bà Nguyễn Thị C tại Biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 12/01/2024 và tại phiên toà:

Bà Đặng Thị L hiện đang định cư tại Hoa Kỳ. Trước khi xuất cảnh, bà L có vay của bà Nguyễn Thị H số tiền 150.000.000 đồng nhưng đã trả nhiều lần được 89.000.000 đồng, còn nợ lại 61.000.000 đồng. Đối với số vàng mà bà H yêu cầu thì bà Chính xác Đ bà L có nợ vàng của bà H, loại vàng của tiệm V tại tỉnh Hậu Giang nhưng không rõ số lượng cụ thể là bao nhiêu.

Bà C không có cam kết trả nợ thay cho bà L và không có ký tên trong Tờ cam kết (V/v: Nhận trả thay lãi suất, tiền và vàng). Bà C không rõ chữ ký trong Biên bản hỏi tiền và vàng ghi ngày 13/3/2014 có phải là của bà L hay không.

Tòa án đã thu thập thông tin liên quan việc xuất nhập cảnh của bà Đặng Thị L và việc xác nhận vào ngày 14/5/2016 của Ban N, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng trong bản chính Tờ cam kết (V/v: Nhận trả thay lãi suất, tiền và vàng).

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền, vàng còn nợ và bị đơn đang ở nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2022, bà Nguyễn Thị H xác định địa chỉ nơi cư trú của bà Đặng Thị L là ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bà L không còn cư trú tại địa chỉ này, nhưng theo xác nhận của Trưởng Ban N, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì bà L có đăng ký thường trú ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; tại phiên toà, mẹ ruột bà L là bà Nguyễn Thị C trình bày bà L sống chung nhà với bà C tại địa chỉ này trước khi xuất cảnh ra nước ngoài nên thuộc trường hợp người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện. Tại Công văn số 1829/QLXNC-P5 ngày 12/6/2023, Cục Q - Bộ C1 xác định bà L đã xuất nhập cảnh 02 lượt, lần xuất cảnh gần nhất vào ngày 22/8/2019 nhưng trước khi xuất cảnh, bà L không thông báo cho bà H biết về nơi cư trú mới ở nước ngoài theo khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được coi là giấu địa chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[3] Bà Đặng Thị L, ông Đặng Văn B vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự này.

[4] Tại phiên toà, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện thành yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả số tiền gốc còn nợ là 61.000.000 đồng và 31 chỉ vàng 9999. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu này không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về buộc bà Đặng Thị L thanh toán số tiền 61.000.000 đồng, tại phiên toà mẹ ruột bà L là bà Nguyễn Thị C trình bày trước khi xuất cảnh, bà L có vay của bà Nguyễn Thị H số tiền 150.000.000 đồng. Trong thời gian ở nước ngoài, bà L đã gửi tiền về nhiều lần để bà C trả cho bà H được tổng cộng là 89.000.000 đồng, hiện còn nợ 61.000.000 đồng nên đủ cơ sở xác định bà L còn nợ bà H số tiền này.

[6] Xét yêu cầu của bà H về buộc bà L thanh toán 31 chỉ vàng 9999, theo đơn khởi kiện bà H cho rằng có cho bà L vay 31 chỉ vàng, loại vàng 9999 theo bản sao Biên nhận hỏi tiền và vàng ghi ngày 13/3/2014 có chữ ký của bà L; còn bản chính thì bà H trình bày do thất lạc nên không cung cấp được. Hội đồng xét xử thấy rằng tại phiên toà, bà Chính xác Đ bà L có nợ vàng của bà H, loại vàng của tiệm V tại tỉnh Hậu Giang. Tuy bà C không xác định bà L nợ số lượng vàng cụ thể bao nhiêu nhưng theo Tờ cam kết (V/v: Nhận trả thay lãi suất, tiền và vàng) do bà Nguyễn Thị C, ông Đặng Văn B lập (được Ban N, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng xác nhận ngày 14/5/2016) thể hiện bà C, ông B có cam kết trả 31 chỉ vàng cho bà H thay cho bà L. Do đó, cũng đủ cơ sở xác định bà L có vay bà H 31 chỉ vàng, loại vàng 9999.

[7] Do bà L không thực hiện nghĩa vụ trả tiền, vàng nên việc bà H khởi kiện yêu cầu bà L trả 61.000.000 đồng và 31 chỉ vàng loại 9999 (tương đương 224.130.000 đồng, với giá vàng tại thời điểm xét xử là 7.230.000 đồng/chỉ) còn nợ nêu trên là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466, điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015.

[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu; bị đơn phải chịu 14.256.500 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 93, khoản 1 Điều 94, khoản 1 Điều 95, điểm e khoản 1 Điều 192, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Điều 463, khoản 1 Điều 466, điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H:

Buộc bà Đặng Thị L có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị H số tiền 61.000.000 đồng và 31 chỉ vàng (loại vàng 9999) còn nợ, tương đương số tiền tổng cộng là 285.130.000 đồng theo Tờ cam kết (V/v: Nhận trả thay lãi suất, tiền và vàng) được Ban N, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng xác nhận ngày 14/5/2016.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đặng Thị L phải chịu 14.256.500 đồng.

Bà Nguyễn Thị H không phải chịu, trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền 7.857.500 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005390 ngày 17/4/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

3. Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Đặng Thị L, ông Đặng Văn B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vĩnh Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 30/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger