Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 30/2024/DS-PT

Ngày: 10-7-2024

V/v tranh chấp thừa kế tài sản

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Vương

Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp thừa kế tài sản” do có kháng cáo đối với bản án số 01/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Phạm Đức T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ C, khu A phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ C, khu P, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lãnh Thị Mai H, Luật sư Công ty L1 Chi nhánh Q1; địa chỉ: Số B, Đ, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

* Bị đơn: Ông Phạm Đức T2, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Bùi Thị Thu H1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình;
  2. Anh Bùi Quang V, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình;
  3. Người đại diện hợp pháp của anh Bùi Quang V: Ông Bùi Xuân V1, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (là bố đẻ anh V);
  4. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình;

Người kháng cáo: Bị đơn – ông Phạm Đức T2

Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn - ông Phạm Đức T trình bày:

Bố đẻ ông là cụ Phạm Đức T3, sinh năm 1932, chết năm 2007. Mẹ đẻ ông là cụ Hoàng Thị R (D), sinh năm 1933, chết năm 2022. Cụ T3 và cụ R có 04 người con chung gồm: Ông (Phạm Đức T); bà Phạm Thị T4 (sinh năm 1958, đã chết năm 2011); bà Phạm Thị T5 (sinh năm 1960, chết năm 2003) và ông Phạm Đức T2. Ngoài 04 người con đẻ, bố mẹ ông không ai có con riêng, cũng không nhận ai khác làm con nuôi.

Bà Phạm Thị T5 không có chồng, không có con. Bà Phạm Thị T4 có chồng là ông Bùi Xuân V1 (nhưng đã ly hôn); có 02 con là Bùi Thị Thu H1 và Bùi Quang V.

Khi còn sống bố mẹ ông có 01 thửa đất là thửa số 230, tờ bản đồ số 01, diện tích 404 m² có địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Bố mẹ ông có xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 gồm 03 gian vào năm 1979. Ngày 29/4/2004 thửa đất được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận QSD đất số 518Y514098 mang tên mẹ ông là cụ Hoàng Thị R. Diện tích được cấp là 404 m². Đến năm 2006 bố mẹ ông chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung Đ1 110 m² nằm trong diện tích thửa đất. Diện tích còn lại là 294 m².

Tháng 5 năm 2008, cụ Hoàng Thị R lập di chúc phân chia di sản của bố mẹ ông. Theo nội dung di chúc: Cụ R chia cho ông T và ông T2 mỗi người được thừa kế 1/2 di sản, tương ứng với 147 m² đất của thửa đất số 230. Tại di chúc cũng chỉ rõ vị trí mỗi người được hưởng. Di chúc do ông Bùi Xuân V1 là con rể cụ R và cụ T3 viết tay hộ. Cụ R có ký tên vào bản di chúc, ông Nguyễn Văn H2 là trưởng thôn Đ, ông Phạm Duy N và công chức địa chính; ông Phạm Đức L, ông Phạm Đức T6, ông Phạm Đức T7, ông Phạm Ngọc n, ông Phạm Đức Q ký xác nhận là người làm chứng và được UBND xã T chứng thực (do ông Trần Khánh H3 - Phó Chủ tịch ký xác nhận).

Theo ông T, di chúc của cụ Hoàng Thị R là hợp pháp. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận bản di chúc của mẹ ông (cụ Hoàng Thị R (Dậu) lập, được UBND xã T chứng thực ngày 27 tháng 5 năm 2008 là hợp pháp và chia di sản thừa kế do mẹ ông để lại là diện tích đất 294 m² tại thửa đất số 230, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình theo bản di chúc nêu trên. Cụ thể: ông Phạm Đức T và ông Phạm Đức T2 mỗi người được thừa kế diện tích đất 147m² thuộc thửa đất nêu trên (có vị trí như trong bản di chúc).

Sau khi Tòa án đo đạc diện tích thửa đất tranh chấp là 319,6 m²; ông T đề nghị Tòa án xác định di sản của mẹ ông để lại theo hiện trạng là 319,6 m² ông T đã có văn bản gửi cho Tòa án. Đến nay, ông T yêu cầu Tòa án công nhận bản di chúc của mẹ ông do cụ Hoàng Thị R (Dậu) lập, được UBND xã T chứng thực ngày 27 tháng 5 năm 2008 là hợp pháp và chia di sản thừa kế do cụ R để lại là diện tích đất 294 m² tại thửa đất số 230, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình theo bản di chúc đã giao nộp Tòa án. Còn diện tích 25,6 m² chưa được định đoạt theo di chúc, đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật cho các đồng thừa kế. Ông T đề nghị được nhận toàn bộ ngôi nhà xây dựng năm 1979 nay ông T2 đã sửa lại có diện tích khoảng 40 m² có nguồn gốc là của bố mẹ ông để lại và đồng ý thanh toán tiền chênh lệch về tài sản cho ông T2 theo giá mà Hội đồng định giá đã xác định. Trường hợp ngôi nhà xây dựng năm 1979 này có hạng mục nào nằm trên phần diện tích đất mà ông T2 được chia, ông cam kết sẽ tháo dỡ toàn bộ hạng mục đó để trả lại mặt bằng cho ông T2.

Bố mẹ ông không để lại nghĩa vụ về tài sản. Ông T không quản lý Giấy chứng nhận QSD đất số 518 Y514098 mang tên cụ Hoàng Thị R. Theo ông T, ông T2 là người đang quản lý tài liệu này. Đề nghị Tòa án yêu cầu ông T2 cung cấp cho Tòa án.

Bị đơn - ông Phạm Đức T2 trình bày:

Đối với quan hệ nhân thân của cụ T3 và cụ R, về số thửa, diện tích, sự biến động của thửa đất số 230, tờ bản đồ số 01 ông T2 trình bày như ý kiến của ông T. Tuy nhiên, theo ông T2: năm 1991, khi bố mẹ ông còn sống bố mẹ ông có tự đào 01 ao nuôi cá, diện tích 50 m². Sau đó bố mẹ ông có cho vợ chồng ông 50 m² đất ao này và 50m² đất ở, tổng cộng 100 m². Khi cho, bố mẹ ông chỉ cho bằng miệng, không có giấy tờ, không có người làm chứng và cũng không ra UBND xã làm thủ tục tặng cho. Đến năm 1992, ông có mua tre, đóng cọc san lấp ao và xây nhà trên diện tích 100m². Còn lại diện tích 194 m² bố mẹ ông sử dụng đến khi chết.

Tài sản trên đất của bố mẹ ông gồm: 01 nhà 03 gian có chiều dài 7,5m; chiều rộng 4,8m; xây gạch xỉ, vôi và cát chua, xây năm 1979. Do thời gian sử dụng quá lâu, ngôi nhà xuống cấp, tường lún, tre, nứa mục nát và bị sập. Đến năm 2015, ông phải bỏ tiền ra để sửa chữa lại toàn bộ (trát lại tường, lợp mái tôn, đóng trần, lát nền gạch hoa, sơn và xây công trình phụ mới). Chi phí sửa chữa nhà và xây công trình phụ hết 120 triệu đồng. Chi phí tôn sân, lát sân diện tích 83m² hết 20 triệu đồng. Chi phí xây tường bao trên diện tích 194m² hết 05 triệu đồng. Tổng chi phí sửa chữa là 145 triệu đồng. Nguồn tiền để sửa chữa là của riêng ông, vợ ông là bà Trần Thị Đ cùng các con ông là Phạm Hùng T8, sinh năm 1990 và Phạm Quốc T9, sinh năm 1994, đều cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình không đóng góp được gì vào việc tôn tạo, sửa chữa khối tài sản này.

Như vậy, theo ông T2, di sản của bố mẹ ông chỉ còn lại 194 m² đất và toàn bộ khung nhà còn lại trên thửa đất. Vì vậy, ông không đồng ý với bản di chúc mà ông T giao nộp cho Tòa án. Ông đề nghị Tòa án xem xét lại bản di chúc. Trường hợp di chúc không hợp pháp, ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Hiện tại ông là người đang quản lý, sử dụng di sản của bố mẹ ông. Ông là người có công sức đóng góp duy trì, tôn tạo di sản. Vợ chồng ông có công chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ khi họ ốm đau, không đi lại được; ông lo việc ma chay, giỗ Tết cho bố mẹ. Tuy nhiên ông không có yêu cầu gì về các chi phí này.

Ông T2 không quản lý Giấy chứng nhận QSD đất số 518 Y514098 mang tên cụ Hoàng Thị R. Ông cũng không rõ ai đang quản lý tài liệu này. Ông T2 không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu gì khác.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 29/6/2023, chị Bùi Thị Thu H1 trình bày:

Chị là con đẻ của ông Bùi Xuân V1 và bà Phạm Thị T4. Bố mẹ chị có 02 con chung là chị và anh Bùi Quang V. Năm 1986, bố mẹ chị ly hôn. Năm 2011 mẹ chị chết không để lại di chúc. Anh V bị khuyết tật từ nhỏ, bị hạn chế về nhận thức, việc sinh hoạt cá nhân, ăn uống đều cần phải có người hỗ trợ. Tuy nhiên chị không đề nghị Tòa án tuyên bố anh V hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 05/12/2023, Chị H1 gửi cho Tòa án văn bản từ chối nhận phần di sản thừa kế mà chị được hưởng của cụ T3 và cụ R để lại.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 29/6/2023, ông Bùi Xuân V1 trình bày:

Ông là chồng của bà Phạm Thị T4, là con rể của cụ Hoàng Thị R. Tuy nhiên năm 1986 ông và bà T4 đã ly hôn. Sau đó hai bên vẫn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn lại.

Năm 2008, cụ R nhờ ông viết hộ Tờ di chúc. Nội dung di chúc của cụ R đúng như tờ di chúc mà ông T giao nộp cho Tòa án. Cụ R đọc nội dung cho ông viết trong tình trạng hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo và có sự chứng kiến của ông Phạm Đức T10, ông Phạm Đức P. Hiện ông T10 còn sống nhưng không còn minh mẫn, ông P đã chết năm 2022. Những người khác ký tên vào tờ di chúc là do sau khi lập xong di chúc, bà T4 chở cụ D đi xin chữ ký xác nhận. Còn tại thời điểm lập di chúc không có mặt ông T, ông T2. Ông T ký tên sau khi di chúc đã lập xong.

Ông và bà T4 có 02 con chung là Bùi Thị Thu H1 và Bùi Quang V. Năm 2011, bà T4 chết. Anh V bị khuyết tật từ nhỏ, bị hạn chế về nhận thức, việc sinh hoạt cá nhân, ăn uống đều cần phải có người hỗ trợ. Anh V được hưởng trợ cấp người khuyết tật do Phòng Lao động Thương binh huyện V chi trả. Ông cũng không đề nghị Tòa án tuyên bố anh V hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự. Ông V1 đại diện cho anh V cũng đã gửi cho Tòa án văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của cụ T3 và cụ R.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 05/10/2023 và ngày 05/3/2024 bà Trần Thị Đ, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình trình bày:

Bà là vợ của ông Phạm Đức T2. Bà và ông T2 có 02 người con chung như ông T2 đã trình bày. Về đất đai của bố mẹ chồng bà, bà không có ý kiến gì. Trên đất có 01 ngôi nhà 03 gian xây dựng năm 1979. Năm 2015 bị xuống cấp và bị sập nên ông T2 bỏ tiền ra để sửa chữa lại toàn bộ. Số tiền đó là của riêng ông T2, bà và các con không có đóng góp gì. Còn ngôi nhà mái bằng bê tông cốt thép xây dựng năm 1992, diện tích 55 m² cùng công trình phụ kèm theo hiện vợ chồng bà đang sử dụng là do vợ chồng bà xây dựng. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho gia đình bà. Phần sân lát gạch là do ông T2 tự bỏ tiền ra để sửa chữa, lát gạch.

Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 611; 612; 613; 620, 623, 630 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 106 Luật Đất đai năm 2003; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ vào các Điều 609, 611, 620, 623, 624, 628, 630, 631, 632, 634, 635, 643, 649, 650, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 106 Luật Đất đai năm 2003; Điều 167 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Đức T. Công nhận Tờ di chúc của cụ Hoàng Thị R (Dậu) được UBND xã T chứng thực ngày 27 tháng 5 năm 2008 hợp pháp một phần đối với phần di sản của cụ Hoàng Thị R tương ứng với 219,72 m² đất tại thửa đất số 230 tờ bản đồ số 01 có địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.
  2. Xác định di sản thừa kế của cụ Phạm Đức T3 là 159,8 m² đất; di sản của cụ Hoàng Thị R là 219,72 m² đất tại thửa đất số 230 tờ bản đồ số 01 có địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.
  3. Chia thừa kế theo pháp luật di sản thừa kế của cụ Phạm Đức T3 tương ứng với 159,8 m² đất. Chia thừa kế theo di chúc của cụ Hoàng Thị R tương ứng với 219,72 m² đất theo Tờ di chúc của cụ Hoàng Thị R được UBND xã T chứng thực ngày 27 tháng 5 năm 2008. Cụ thể: Chia cho ông Phạm Đức T được hưởng phần di sản thừa kế là 39,95 m² + 109,86 m² = 149,81 m²; chia cho ông Phạm Đức T2 được hưởng phần di sản thừa kế là 59,92 m²+ 109,86 m² = 169,78 m²

Để không gây ảnh hưởng đến công trình xây dựng, cần chia cho ông Phạm Đức T được quyền sử dụng 177 m²; chia cho ông T2 được quyền sử dụng 142,6 m². Ông T có trách nhiệm thanh toán giá trị đất chênh lệch cho ông T2 là 27,18 m² x 10.000.000 = 271.800.000 đồng.

  1. Về vị trí đất được hưởng:
    1. Chia cho ông Phạm Đức T được hưởng diện tích đất 177 m², thuộc số thửa 230, tờ bản đồ số 01. Có vị trí:
      • - Phía Đông giáp phần diện tích S2 có cạnh dài 22.33 mét;
      • - Phía Tây giáp ông Nguyễn Trung Đ1, có cạnh dài 22.33 mét;
      • - Phía Nam giáp đường giao thông có cạnh dài 7.10 + 1.04 mét;
      • - Phía Bắc giáp đường giao thông có cạnh dài 7.76 mét.
    2. Chia cho ông T2 được hưởng diện tích đất 142,6 m², thuộc số thửa 230, tờ bản đồ số 01. Có vị trí:
      • - Phía Đông giáp đường giao thông có cạnh dài 7.55 + 14.94 mét;
      • - Phía Tây giáp phần diện tích S1, có cạnh dài 22.33 mét;
      • - Phía Nam giáp đường giao thông có cạnh dài 6.79 mét;
      • - Phía Bắc giáp đường giao thông có cạnh dài 5.57 mét.

    (Diện tích và vị trí phân chia như sơ đồ kèm theo bản án này)

  2. Ông T; ông T2 và bà Đ được quyền sở hữu tài sản trên phần diện tích đất được chia như sau:
    1. Ông T được quyền sở hữu đối với các tài sản trên diện tích đất được chia gồm: 01 Nhà phụ mái tôn xây tường 220, xây dựng diện tích 26,2 m² do ông T xây dựng và 01 nhà phụ mái tôn xây tường 220, xây dựng năm 1979, tu sửa năm 2015, diện tích 40 m² do cụ T3 và cụ R xây dựng nhưng ông T2 đã sửa chữa lại toàn bộ. Ông T có trách nhiệm thanh toán trị giá các công trình do ông T2 xây dựng trên diện tích đất ông T được hưởng thừa kế cho ông T2 gồm trị giá ngôi nhà phụ mái tôn xây dựng năm 1979, tu sửa năm 2015 là 27.327.672 đồng và thanh toán cho ông T2, bà Đ diện tích sân do ông T2, bà Đ đã lát gạch đỏ là 95 m² là 5.458.890 đồng. Tổng cộng là 32.787.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  1. Ông T2, bà Đ có quyền sở hữu đối với các tài sản trên diện tích đất mà ông T2 được hưởng thừa kế gồm: Nhà mái bằng bê tông cốt thép xây dựng năm 1992, diện tích 55 m²; Nhà phụ mái bằng xây tường 220, xây dựng năm 2004, diện tích 30 m² cùng các phụ trợ khác (gồm tường xây, sân lát gạch đỏ...) do ông T2, bà Đ xây dựng nằm trên diện tích đất mà ông T2 được chia.
  1. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Đức T.

Ông Phạm Đức T2 phải chịu 62.934.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà ông T2 được chia.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật

Ngày 12/4/2024, ông Phạm Đức T2 kháng cáo về cách chia thừa kế, ông T2 không đồng ý nhận kỷ phần thừa kế bằng tiền, ông T2 không đồng ý nhận giá trị chênh lệch của phần diện tích 27,18m² đất thuộc kỷ phần thừa kế của ông T2 và ông T2 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm miễn án phí cho ông T2.

Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm ông T2 đã có đơn xin rút yêu cầu kháng cáo về cách chia thừa kế, ông T2 đồng ý nhận giá trị chênh lệch đối với kỷ phần 27,18m² đất mà ông T2 được hưởng như bản án sơ thẩm đã tuyên. Ông T2 chỉ kháng cáo phần án phí sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm miễn án phí cho ông T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3, Điều 284, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa phần án phí của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Đức T2 làm trong thời hạn kháng cáo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, là kháng cáo hợp lệ, được đưa ra xem xét tại phiên tòa phúc thẩm.
  2. [2] Về nội dung:
    1. [2.1] Đối với nội dung kháng cáo về cách chia thừa kế: Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, ông T2 không đồng ý về việc Tòa án tuyên ông T được sử dụng 27,18m² và buộc ông T thanh toán cho ông T2 số tiền chênh lệch về diện tích đất này. Ông T2 đề nghị được nhận toàn bộ kỷ phần thừa kế bằng hiện vật. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm ông T2 đã rút toàn bộ yêu cầu này, vì vậy HĐXX cần đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo này.
    2. [2.2] Đối với yêu cầu kháng cáo xin miễn tiền án phí của ông Phạm Đức T2: Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên ông T2 phải chịu 62.934.000 đồng là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, ông T2 xuất trình bản xác nhận người cao tuổi và các tài liệu thể hiện ông T2 đang bị bệnh ung thư đại tràng. Xét thấy tại cấp phúc thẩm người kháng cáo đã xuất trình các tài liệu chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của ông T2, sửa phần án phí của bản án sơ thẩm.
  3. [3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Phạm Đức T2 được chấp nhận nên ông T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 3 Điều 284, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Đức T2, sửa bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
    • - Sửa phần án phí của bản án sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Đức T2.
    • - Đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Đức T2 về việc ông T2 yêu cầu nhận toàn bộ kỷ phần thừa kế bằng hiện vật. Giữ nguyên cách chia thừa kế của bản án sơ thẩm, cụ thể:
      1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Đức T. Công nhận Tờ di chúc của cụ Hoàng Thị R (Dậu) được UBND xã T chứng thực ngày 27 tháng 5 năm 2008 hợp pháp một phần đối với phần di sản của cụ Hoàng Thị R tương ứng với 219,72 m² đất tại thửa đất số 230 tờ bản đồ số 01 có địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.
      2. Xác định di sản thừa kế của cụ Phạm Đức T3 là 159,8 m² đất; di sản của cụ Hoàng Thị R là 219,72 m² đất tại thửa đất số 230 tờ bản đồ số 01 có địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.
      3. Chia thừa kế theo pháp luật di sản thừa kế của cụ Phạm Đức T3 tương ứng với 159,8 m² đất. Chia thừa kế theo di chúc của cụ Hoàng Thị R tương ứng với 219,72 m² đất theo Tờ di chúc của cụ Hoàng Thị R được UBND xã T chứng thực ngày 27 tháng 5 năm 2008. Cụ thể: Chia cho ông Phạm Đức T được hưởng phần di sản thừa kế là 39,95 m² + 109,86 m² = 149,81 m²; chia cho ông Phạm Đức T2 được hưởng phần di sản thừa kế là 59,92 m² + 109,86 m² = 169,78 m²

Để không gây ảnh hưởng đến công trình xây dựng, cần chia cho ông Phạm Đức T được quyền sử dụng 177 m²; chia cho ông T2 được quyền sử dụng 142,6 m². Ông T có trách nhiệm thanh toán giá trị đất chênh lệch cho ông T2 là 27,18 m² x 10.000.000 = 271.800.000 đồng.

  1. Về vị trí đất được hưởng:
    1. Chia cho ông Phạm Đức T được hưởng diện tích đất 177 m², thuộc số thửa 230, tờ bản đồ số 01. Có vị trí:
      • - Phía Đông giáp phần diện tích S2 có cạnh dài 22.33 mét;
      • - Phía Tây giáp ông Nguyễn Trung Đ1, có cạnh dài 22.33 mét;
      • - Phía Nam giáp đường giao thông có cạnh dài 7.10 + 1.04 mét;
      • - Phía Bắc giáp đường giao thông có cạnh dài 7.76 mét.
    2. Chia cho ông T2 được hưởng diện tích đất 142,6 m², thuộc số thửa 230, tờ bản đồ số 01. Có vị trí:
      • - Phía Đông giáp đường giao thông có cạnh dài 7.55 + 14.94 mét;
      • - Phía Tây giáp phần diện tích S1, có cạnh dài 22.33 mét;
      • - Phía Nam giáp đường giao thông có cạnh dài 6.79 mét;
      • - Phía Bắc giáp đường giao thông có cạnh dài 5.57 mét.

    (Diện tích và vị trí phân chia như sơ đồ kèm theo bản án này)

  2. Ông T; ông T2 và bà Đ được quyền sở hữu tài sản trên phần diện tích đất được chia như sau:
    1. Ông T được quyền sở hữu đối với các tài sản trên diện tích đất được chia gồm: 01 Nhà phụ mái tôn xây tường 220, xây dựng diện tích 26,2 m² do ông T xây dựng và 01 nhà phụ mái tôn xây tường 220, xây dựng năm 1979, tu sửa năm 2015, diện tích 40 m² do cụ T3 và cụ R xây dựng nhưng ông T2 đã sửa chữa lại toàn bộ. Ông T có trách nhiệm thanh toán trị giá các công trình do ông T2 xây dựng trên diện tích đất ông T được hưởng thừa kế cho ông T2 gồm trị giá ngôi nhà phụ mái tôn xây dựng năm 1979, tu sửa năm 2015 là 27.327.672 đồng và thanh toán cho ông T2, bà Đ diện tích sân do ông T2, bà Đ đã lát gạch đỏ là 95 m² là 5.458.890 đồng. Tổng cộng là 32.787.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  1. Ông T2, bà Đ có quyền sở hữu đối với các tài sản trên diện tích đất mà ông T2 được hưởng thừa kế gồm: Nhà mái bằng bê tông cốt thép xây dựng năm 1992, diện tích 55 m²; Nhà phụ mái bằng xây tường 220, xây dựng năm 2004, diện tích 30 m² cùng các phụ trợ khác (gồm tường xây, sân lát gạch đỏ...) do ông T2, bà Đ xây dựng nằm trên diện tích đất mà ông T2 được chia.
  1. Về án phí: Ông Phạm Đức T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án, Chi cục THA huyện Vũ Thư;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 30/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger