Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHIÊM HÓA

TỈNH TUYÊN QUANG

________________

Bản án số: 30/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 29/6/2021

“Về việc: Yêu cầu không

công nhận vợ chồng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Bích Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lý Văn Tòng.
  2. Ông Hứa Viết Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Ma Công Liêu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 95/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021 về việc “Yêu cầu không công nhận vợ chồng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 28/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bế Thị V (Bế Thị V1), sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Mạc Văn K, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/4/2021, quá trình giải quyết nguyên đơn chị Bế Thị Vi trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bế Thị V và anh Mạc Văn K do hai bên tự nguyện tìm hiểu đến năm 1989 có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị V và anh K sống tại thôn L, xã Y, huyện C, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do hai anh chị tính tình không hợp nhau, không có sự chia sẻ lẫn nhau trong cuộc sống, anh K lười lao động, thường xuyên uống rượu, chửi mắng chị V, dẫn đến tình cảm phai nhạt dần. Khi mâu thuẫn xảy ra anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng mâu thuẫn không khắc phục được. Chị V và anh K đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị V đề nghị tòa án không công nhận chị V và anh Mạc Văn K là vợ chồng.

Về con chung: Chị V và anh K có ba người con chung là cháu Mạc Thị L1, sinh ngày 08/02/1991; cháu Mạc Thị N, sinh ngày 22/9/1993 và cháu Mạc Quốc A, sinh ngày 25/7/2001 hiện nay cả ba cháu đã đủ 18 tuổi, có khả năng nhận thức và lao động bình thường nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 10/5/2021 và trong quá trình giải quyết bị đơn anh Mạc Văn Khánh trình bày: Anh và chị V đã tự nguyện chung sống từ năm 1989 đến nay không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh hoàn toàn nhất trí với yêu cầu của chị V vì tình cảm vợ chồng không còn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị Bế Thị V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc không công nhận vợ chồng với anh Mạc Văn K. Đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị V và anh K chung sống với nhau từ năm 1989 đến nay không đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị V không được pháp luật công nhận.

[3] Về nuôi con chung: Các con đã trưởng thành, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị giải quyết nên không xem xét.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Bế Thị V (Tên gọi khác: Bế Thị V1) và anh Mạc Văn K là vợ chồng.

2. Về án phí: Chị Bế Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chị V đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0003426 ngày 20/4/2021, nay được chuyển thành tiền án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKS huyện + tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã Y;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa





Đào Thị Bích Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2021/HNGĐ-ST ngày 29/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về yêu cầu không công nhận vợ chồng

  • Số bản án: 30/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu không công nhận vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị V đề nghị không công nhận là vợ chồng với anh Mạc văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger