|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH T ________________ Bản án số: 30 /2021/HNGĐ - ST Ngày: 27 / 01 / 2021 V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ________________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Trọng Hoành
- Ông Lưu Minh Sửu
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh T tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 299/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2020 về "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 11/ 01/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Q, sinh năm 1992. Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã V, huyện T, Thanh Hóa; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1988. Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã Xuân Bái, huyện T, tỉnh T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 13/11/2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Hồ Thị Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Q và anh A tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và đi đến hôn nhân, có tổ chức cưới theo phong tục và làm đăng ký kết hôn ngày 08/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm trong sinh hoạt gia đình. Đến tháng 10 năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Anh.
Về con chung: chị Q xác định vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Nam Phong, sinh ngày 25/3/2016 và cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 26/01/2018 hiện tại 02 cháu đang ở với chị. Nguyện vọng của chị là xin được nuôi cả 02 con và yêu cầu anh Anh cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi tháng mỗi cháu 1.000.000 đồng từ khi vợ chồng chính thức ly hôn đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành.
Về tài sản và công nợ: chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 15/11/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Tuấn A trình bày: Anh và chị Q tự nguyện kết hôn năm 2015. Quá trình chung sống không hợp, mâu thuẫn trầm trọng. Anh đồng ý ly hôn. Về con chung, anh xin được nuôi cháu Nguyễn Nam P nhưng không đề cập đến việc cấp dưỡng. Về tài sản, anh không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Q và anh A là hợp pháp. Tuy nhiên mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q.
[3] Về con chung: Xét điều kiện nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử thấy rằng chị Q đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con và có đủ điều kiện đảm bảo quyền lợi cho các cháu. Do đó, giao cả 02 con cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng: Yêu cầu của chị Q về việc anh A cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng/cháu là chính đáng và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị Q được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn A.
- Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Nam P (sinh 25/3/2016) và cháu Nguyễn Phúc A (sinh 26/01/2018) cho chị Hồ Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Tuấn A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng mỗi cháu 1.000.000đ kể từ tháng 02 năm 2021 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Hồ Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (đã nộp). Anh Nguyễn Tuấn Anh phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc nhận được bản án.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - TAND tỉnh T; - Các đương sự; - UBND xã X; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Hồng Đức |
Bản án số 30/2021/HNGĐ-ST ngày 27/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 30/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/01/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hồ Thị Q và anh Nguyễn Tuấn A tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/5/2015, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh A là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong sinh hoạt gia đình. Nay chị Q có đơn yêu cầu giải quyết xin được ly hôn với anh A. Quá trình giải quyết vụ án, chị Q nhất quyết đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn; còn anh Acó ý kiến đồng ý ly hôn......
