|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 30/2021/HNGĐ-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hãn & Ông Nguyễn Văn Hiệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy – Thư ký TAND huyện Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 183/2021/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 34/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/5/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1995; HKTT: thôn Hữu Bằng, xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
Bị đơn: Anh Hà Như L, sinh năm 1986; HKTT: thôn Hữu Bằng, xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị và anh Hà Như L kết hôn với nhau từ năm 2015 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngọc Xá. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, nguyên nhân là về vấn đề kinh tế gia đình, anh L thường xuyên chơi cờ bạc dẫn tới nợ nần, chị T đã nhiều lần phải trả nợ cho anh L. Anh L cũng không quan tâm, chăm sóc gì đến vợ con. Khoảng tháng 5/2020 anh L phát hiện chị T nhắn tin tình cảm với một người đồng nghiệp nên đã đánh chị, chị T đã xin lỗi anh L nhưng sau đó anh L vẫn thường xuyên ghen tuông và xúc phạm chị. Mặc dù chị T nhiều lần nói chuyện giải thích với anh L về việc đã chấm dứt quan hệ, không còn liên lạc gì với người đồng nghiệp đó nữa nhưng anh L vẫn không tin. Gia đình hai bên cũng nhiều lần hòa giải cho hai vợ chồng, nhưng anh L vẫn không bỏ qua. Tháng 9/2020 anh L đòi ly hôn chị T, nhưng chị không muốn nên đã xin phép về nhà đẻ ở mấy hôm để anh L nguôi giận. Tuy nhiên, sau đó nhiều lần chị T gọi điện, nhắn tin cho anh L nhưng anh L chỉ nhắn chửi bới, xúc phạm chị. Hai vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, chị T đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh L không đồng ý. Nay chị T thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là Hà Như Đại Dương, sinh ngày 21/10/2015 và Hà Thị Anh Thư, sinh ngày 29/01/2017, hiện nay hai cháu đều vẫn đang ở với anh L. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi cháu Thư, còn để anh L nuôi cháu Dương, vấn đề cấp dưỡng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị T đang thuê nhà ở trọ tại khu Đa Cấu, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, và đang làm việc tại Tập đoàn khoa học kỹ thuật Hồng Hải, thu nhập trung bình khoảng 8.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Hà Như L trình bày:
Anh L cũng xác nhận anh và chị T kết hôn với nhau từ năm 2015 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngọc Xá. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, chỉ đến tháng 5/2020 anh L phát hiện ra chị T có quan hệ bất chính với người đàn ông khác thông qua tin nhắn của chị T với người đó. Khi anh L hỏi thì chị T cũng thừa nhận việc ngoại tình, gia đình hai bên đã hòa giải cho hai vợ chồng, chị T xin lỗi anh và hứa sẽ không tiếp tục nữa. Tuy nhiên, chỉ được hơn 02 tháng thì anh L lại thấy tin nhắn tình cảm của chị T với người đàn ông đó, nên hai vợ chồng lại xảy ra cãi nhau. Anh L đã để cho chị T về nhà bố mẹ đẻ ở để suy nghĩ, nhưng sau đó thì hai vợ chồng cũng không còn liên lạc thường xuyên và quan tâm gì đến nhau nữa. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 9/2020 đến nay, nay anh L cũng thấy cuộc sống của vợ chồng tôi không còn hạnh phúc nên cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh L cũng xác nhận lời trình bày của chị T về con chung là đúng. Ly hôn anh L đề nghị được nuôi cả 02 con là Hà Như Đại Dương và Hà Thị Anh Thư, vấn đề cấp dưỡng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh L đang ở cùng nhà với bố mẹ tại thôn Hữu Bằng, xã Ngọc Xá, và đang làm công nhân, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Hà Huy Thắng là anh trai của anh L cũng xác nhận mâu thuẫn của anh L, chị T là do chị T có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Mặc dù chị T đã xin lỗi và hứa không tiếp diễn nữa nhưng chỉ được hơn 02 tháng thì gia đình lại phát hiện chị T vẫn tiếp tục ngoại tình. Gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn của vợ chồng anh L, chị T không giải quyết được.
Tại phiên tòa, chị T và anh L vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đều đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T với anh L.
- Về con chung: Giao cháu cháu Dương và cháu Thư cho anh L nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hà Như L (trú tại thôn Hữu Bằng, xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) và giải quyết vấn đề nuôi con chung, nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Quế Võ.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Hà Như L kết hôn với nhau từ năm 2015 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ nên là hôn nhân hợp pháp. Theo chị T thì sau khi kết hôn vợ chồng anh chị thường xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, nguyên nhân là về vấn đề kinh tế gia đình, anh L có chơi cờ bạc và cũng không quan tâm, chăm sóc gì đến vợ con. Khoảng tháng 5/2020 anh L phát hiện chị T nhắn tin tình cảm với một người đồng nghiệp nên đánh chị, chị T đã xin lỗi nhưng sau đó anh L vẫn thường xuyên ghen tuông và xúc phạm chị. Anh L cũng xác nhận mâu thuẫn của vợ chồng là từ tháng 5/2020 khi anh phát hiện chị T có quan hệ bất chính với người đàn ông khác, chị T xin lỗi anh và hứa sẽ không tiếp tục nữa. Nhưng khoảng 02 tháng sau thì anh L lại phát hiện thấy tin nhắn tình cảm của chị T với người đàn ông đó, nên hai vợ chồng lại xảy ra cãi nhau. Anh L đã để cho chị T về nhà bố mẹ đẻ ở để suy nghĩ, nhưng sau đó thì hai vợ chồng cũng không còn liên lạc thường xuyên và quan tâm gì đến nhau nữa. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 9/2020 đến nay, nay chị T, anh L đều xác nhận không còn tình cảm gì với nhau nữa. HĐXX thấy rằng, mâu thuẫn của chị T, anh L đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T với anh L.
[3] Về con chung: Vợ chồng chị T, anh L có 02 con chung là Hà Như Đại Dương, sinh ngày 21/10/2015 và Hà Thị Anh Thư, sinh ngày 29/01/2017. Xét thấy chị T hiện chưa có chỗ ở ổn định, vẫn đang phải đi thuê nhà trọ ở một mình, bố chị T đã mất, còn mẹ thì hiện ở Thái Nguyên nên không có người hỗ trợ chăm sóc con. Mặt khác, từ khi chị T, anh L ly thân đến nay thì hai cháu đều vẫn đang ở với anh L và bố mẹ anh L, anh L cũng có công việc và thu nhập ổn định. Do đó, để tránh việc xáo trộn trong sinh hoạt, học tập và để bảo đảm cho các cháu có đầy đủ các điều kiện để phát triển thể chất, tinh thần thì cần giao cho anh L được tiếp tục nuôi cả 02 con. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Hà Như L.
- Về con chung: Anh L được nuôi cháu Hà Như Đại Dương, sinh năm 2015 và cháu Hà Thị Anh Thư, sinh năm 2017. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0002646 ngày 09/4/2021 của Chi cục THADS huyện Quế Võ.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Quế Võ; - Chi cục THADS huyện Quế Võ; - UBND xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ; - Đương sự; - Lưu hs. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Minh Đức |
Bản án số 30/2021/HNGĐ-ST ngày 14/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 30/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
