|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/3/2025 V/v xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Cẩm Nhung
- Ông Bùi Quang Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Anh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc xin ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Bảo K, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Bị đơn: Ông T, Quoc T1, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Số nhà A W, S, CA I, Hoa Kỳ. Vắng mặt
(Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Trần Bảo K trình bày: Bà và ông T, Quoc T1 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 29/12/2017. Sau một khoảng thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cải vã, cuộc sống không hạnh phúc; mặc dù bà đã cố gắng hòa giải với ông T1 để giải quyết mâu thuẫn nhưng ông T1 không thấu hiểu tâm tư, tình cảm vợ chồng nhạt dần. Hiện nay ông T1 đang sinh sống tại Hoa Kỳ, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T1.
Về con chung: Bà xác định không có.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác định không có.
Bị đơn ông T, Quoc T1 thông qua văn bản được hợp pháp hóa lãnh sự trình bày: Ông xác nhận việc đăng ký kết hôn như lời trình bày của bà K là đúng. Trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, căng thẳng, thường xuyên tranh cải không thể hòa giải. Hiện vợ chồng không còn chung sống với nhau mỗi người một nơi và tình cảm ông dành cho vợ cũng không còn nên ông cũng đồng ý ly hôn với bà K.
Về con chung: Ông xác định không có.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông xác định không có.
Do bà K và ông T1 đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án chỉ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải và giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Bảo K và bị đơn ông T, Quoc T1 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về quan hệ tranh chấp: Bà K khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông T1 hiện cư trú tại Hoa Kỳ. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông T1 là hợp pháp do hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, bà K xác định cuộc sống vợ chồng không thể hòa hợp, tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn. Ông T1 trình bày mâu thuẫn giữa vợ chồng kéo dài đến nay vẫn không khắc phục được và bản thân ông cũng không còn tình cảm đối với bà K nên cũng đồng ý ly hôn với bà K. Thực tế hiện nay bà K và ông T1 cũng đang sống ly thân, bà K sống ở Việt Nam còn ông T1 hiện ở Hoa Kỳ. Với thực trạng hôn nhân như trên đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và kéo dài, hai bên không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà K, cho bà K và ông T1 ly hôn.
[4]. Bà K và ông T1 trình bày không có con chung và nợ chung, tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Cho bà Trần Bảo K ly hôn ông T, Quoc T1.
- Về án phí: Bà K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lại số 0009171 ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng; bà K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
