|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04-01-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Liên và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ H - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 629/2023/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08-12-2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Diễm M, sinh năm: 1994 (có mặt).
Nơi cư trú: Số D đường L, khu phố D, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Ông Võ Văn C, sinh năm: 1980 (có mặt).
Nơi cư trú: Số E đường L, khu phố G, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Phan Thị Diễm M trình bày:
Bà và ông C chung sống với nhau có cưới hỏi năm 2017 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại Bình Dương đi làm công nhân. Đến cuối năm 2019, vợ chồng cải vã, bà dẫn con về P sống với mẹ ruột, còn ông C vẫn sống tại Bình Dương.
Đến tháng 7/2021, ông C dọn về để vợ chồng cùng chung sống tại số D đường L, khu phố D, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, do không cùng tiếng nói chung nên bà không muốn nói chuyện hay hàn gắn tình cảm với ông C. Mặc dù sống chung một nhà nhưng mỗi người ngủ một phòng. Ông C ngày nào cũng đòi hỏi sinh hoạt vợ chồng, bà rất mệt mỏi, nếu không cho ông C sinh hoạt thì ông C lại chửi và xúc phạm bà.
Vào tháng 8 năm 2023, bà có nộp đơn ly hôn sau đó rút đơn để hàn gắn tình cảm, nhưng vẫn không thể hoà hợp. Từ tháng 9/2023, mỗi người sống một nhà riêng. Ông C dọn về sống với mẹ ruột tại 50 đường L, khu phố G, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Bà không còn tình cảm với ông C nữa mặc dù ông C có nhiều lần năn nỉ quay lại nhưng bà không mong muốn. Ông C nhiều lần nhậu đến 1h sáng rồi yêu cầu bà ra nói chuyện mà trong người luôn có dao. Bà đã cố gắng vì con để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thể. Bà yêu cầu Tòa án cho ly hôn ông C vì nếu có tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc.
Về con chung: có 01 con tên Võ Hoàng Gia B, sinh ngày 02-6-2018. Nếu được ly hôn, bà xin nuôi con chung và không yêu cầu ông C nuôi dưỡng. Bà hiện đang làm tiếp thị sữa, thu nhập mỗi tháng 8.000.000đồng và đang sống chung với cha mẹ ruột nên cũng có thêm sự hỗ trợ từ gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông Võ Văn C trình bày:
Ông và bà M là vợ chồng, chung sống có cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P năm 2017. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Ông vẫn thực hiện trách nhiệm làm chồng, làm cha đầy đủ. Hằng ngày đi làm vẫn đưa tiền về cho bà M để lo cuộc sống.
Từ năm 2021, ông và bà M ngủ riêng, mỗi người một phòng. Lý do: con chung còn nhỏ và bà M cũng đang giữ một cháu nhỏ nên ông phải dọn ra phòng khác ngủ. Từ tháng 4/2023, bà M thay đổi tính tình, không nói chuyện và tránh xa ông.
Ông đã nhiều lần nói chuyện, cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng bà M vẫn không chịu nói chuyện và hàn gắn tình cảm với ông. Ông có nhờ gia đình 2 bên để khuyên can nhưng bà M vẫn không đồng ý hàn gắn tình cảm.
Ông thừa nhận khi biết việc bà M nộp đơn ly hôn, ông rất sốc và có những hành vi không đúng như: nhờ người theo dõi bà M để xem bà M có ngoại tình và có đi kể là nghi ngờ vợ ngoại tình với một vài người nên bà M không đồng ý và giận ông.
Từ tháng 9/2023, bà M không muốn tiếp tục chung sống với ông nên ông phải dọn về sống với mẹ ruột tại 50 đường L, khu phố G, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Ông mong Toà án hàn gắn tình cảm để vợ chồng không phải ly hôn.
Về con chung: ông đồng ý giao 01 con chung tên Võ Hoàng Gia B, sinh ngày 02-6-2018 cho bà M và ông cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000đồng.
Về tài sản, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vê quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu câu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu câu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Phan Thị Diễm M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Võ Văn C. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điêu 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại phường P, thành phố P - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điêu 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Bà Phan Thị Diễm M và ông Võ Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 07-4-2017, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điêu 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà M vẫn giữ nguyên yêu câu khởi kiện xin ly hôn; bị đơn ông C không đồng ý ly hôn.
[2.2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà M xin ly hôn ông C với lý do vợ chồng không hoà hợp trong việc sinh hoạt vợ chồng, không thể chia sẻ, gắn kết tình cảm vợ chồng. Một thời gian dài không hoà hợp nên tình cảm bà M dành cho ông C đã không còn, cuộc sống chung ngột ngạt, làm bà mệt mỏi và muỗn được ly hôn để giải thoát, ổn định cuộc sống.
Bà M cũng thừa nhận ông C đêu làm tròn trách nhiệm làm chồng, làm cha và bà cũng đã cố gắng sống với ông C một thời gian dài vì con nhưng bản thân bà M đã hết tình cảm vợ chồng với ông C nên cuộc sống chung không hạnh phúc và bà không thể quay trở về sống với ông C được nữa.
Điêu 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Bà M và ông C không còn chung sống với nhau từ tháng 9 năm 2023, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc do tính tình bà M thay đổi. Ông C và bà M đã có khoảng thời gian dài để hàn gắn tình cảm, cố gắng níu kéo hạnh phúc gia đình nhưng vợ chồng vẫn không thể nói chuyện, chia sẻ và bản thân bà M đã hết tình cảm nên cương quyết không chịu quay về chung sống với ông C.
Vì vậy, căn cứ Điêu 56 Luật hôn nhân và gia đình, hôn nhân giữa bà M và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.
[2.3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Hoàng Gia B, sinh ngày 02-6-2018. Bà M có yêu cầu trực tiếp nuôi con, ông C đồng ý giao con cho bà M nuôi dưỡng. Bà M có nghề nghiệp, có khả năng để nuôi con và ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đồng nên Hội đồng xét xử giao 01 cháu Võ Hoàng Gia B cho bà Phan Thị Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng, ông Võ Văn C có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đồng.
[3] Tài sản chung và nợ chung: Bà M và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm vê ly hôn và ông C phải chịu 50% án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con (đã thoả thuận được trước khi mở phiên toà) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
khoản 1 Điêu 28; khoản 1 Điêu 35; khoản 1 Điêu 39; khoản 4 Điêu 147; Điêu 227; Điêu 228; Điêu 271 và Điêu 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điêu 81; Điêu 82; Điêu 83; Điêu 110; Điêu 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Đa khoản 5, điểm b khoản 6 Điêu 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Vê hôn nhân: Chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn, bà Phan Thị Diễm M được ly hôn với ông Võ Văn C.
2. Về con chung: Giao cho bà Phan Thị Diễm M được quyên trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Võ Hoàng Gia B, sinh ngày 02-6-2018.
Ông Võ Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đồng (ba triệu đồng).
Thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 01 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi có khả năng lao động tự túc được.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Phan Thị Diễm M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào tiên tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0005788 ngày 03-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Phan Thị Diễm M đã nộp đủ án phí.
Ông Võ Văn C phải chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn, quyên kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Vân |
Bản án số 03/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 03/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Diễm M ly hôn Võ Văn C
