Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2995/2024/DS-ST

Ngày: 10 – 7 – 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Chi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 714/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3628/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 4412/QĐĐST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam).
  2. Trụ sở: Số I, đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thùy D.

    Địa chỉ liên lạc: Phòng số 401, Tầng D. Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Giấy ủy quyền số 199/2023/GUY-MAFC ngày 23/5/2023 của Công ty T1 (Việt Nam) và Giấy ủy quyền ngày 10/6/2024 của Công ty L, bà D vắng mặt theo Đơn xin vắng mặt ngày 10/6/2024.

  3. Bị đơn: Ông Lê Sơn T, sinh năm 1990.
  4. Địa chỉ: Số B Đường số B, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 15/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) có bà Lâm Thị Thùy D là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

Ngày 17/11/2022, Công ty T1 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký văn bản Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3962321 về việc cấp tín dụng cho ông Lê Sơn T với khoản vay trị giá 32.310.000 đồng, lãi suất 48%/năm. Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho bà Nguyễn Kiều Q, số tiền giải ngân được Công ty T1 chuyển vào tài khoản cá nhân của ông Lê Sơn T do ông T cung cấp tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3962321. Theo hợp đồng tín dụng, ông Lê Sơn T có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán theo phương thức trả góp hàng tháng với số tiền là 1.708.322 đồng trong kỳ hạn 36 tháng, kể từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/11/2025 cho Công ty. Kể từ ngày được giải ngân đến nay ông Lê Sơn T chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty T1 ASSET được 02 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 3.441.000 đồng. Ngày 11/4/2023 là ngày thanh toán cuối cùng, từ ngày 12/4/2023 đến nay ông T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty T1. Công ty T1 đã liên hệ nhắc nhở qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng. Đồng thời, Công ty T1 cũng đã gửi đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho ông T biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, ông T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho phía Công ty T1. Nay Công ty T1 yêu cầu ông Lê Sơn T thanh toán cho Công ty T1 tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 10/7/2024 là 56.693.734 đồng. Trong đó:

  • - Dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.102.106 đồng.
  • - Tiền lãi trong hạn: 18.805.861 đồng.
  • - Tiền lãi quá hạn: 5.351.521 đồng.
  • - Tiền lãi chậm trả: 1.434.246 đồng.

Ngoài ra, Công ty T1 yêu cầu ông Lê Sơn T phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 11/7/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với yêu cầu cung cấp bản sao hợp đồng tín dụng có chữ ký của người vay và người có thẩm quyền ký đóng dấu, Công ty T1 xác định hợp đồng tín dụng giữa Công ty T1 với ông Lê Sơn T là hợp đồng được giao kết thông qua hình thức ký kết hợp đồng điện tử. Hợp đồng điện tử này được các bên giao kết thông qua việc ông Lê Sơn T đồng ý các điều khoản quy định trên Hợp đồng và xác nhận ký hợp đồng bằng cách nhập mã OTP được gửi từ hệ thống qua SMS hoặc email. Sau khi kiểm tra OTP hợp lệ Công ty TNHH H (là đơn vị đã đăng ký Hoạt động Cung cấp dịch vụ Chứng thực hợp đồng điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam) sẽ khởi tạo chữ ký số, thực hiện ký hợp đồng điện tử và lưu trữ hợp đồng điện tử, thông tin khoản vay. Trong đó: "Chữ ký số” là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng. Việc biến đổi này được tạo ra bằng đúng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai trong cùng một cặp khoá và bảo đảm sự toàn vẹn nội dung của thông điệp dữ liệu theo thỏa thuận tại Điều 1.05 Hợp đồng đối tác cung cấp và sử dụng dịch vụ chữ ký số công cộng FPT-CA số 2020.123/HDKT/BK6 giữa Công ty T1Công ty TNHH H. Dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng FPT-CA thuộc sở hữu của Công ty TNHH H đã được Bộ T2 cấp phép theo Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng số 527/GP-BTTTT ngày 12 tháng 10 năm 2015, thể hiện tại Điều 1.01 Hợp đồng đối tác cung cấp và sử dụng dịch vụ chữ ký số công cộng FPT-CA số 2020.123/HDKT/BK6. Quy trình cho vay được thể hiện trong Quy trình nghiệp vụ, Phụ lục 02 hợp đồng. Khoản vay của ông Lê Sơn T không liên quan đến ai khác.

Bị đơn ông Lê Sơn T vắng mặt trong quá trình Tòa án tiến hành tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày của ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:

  • - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ trình tự, thủ tục luật định.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T1) khởi kiện bị đơn ông Lê Sơn T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn có địa chỉ tại thành phố T. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T1 là bà Lâm Thị Thùy D vắng mặt nhưng có nộp đơn đề nghị vắng mặt; bị đơn ông Lê Sơn T vắng mặt không lý do. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã thực hiện thủ tục niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với ông Lê Sơn T. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn Công ty T1 yêu cầu bị đơn ông Lê Sơn T trả tiền nợ tạm tính đến ngày 10/7/2024 là 56.693.734 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1] Về hiệu lực của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3962321: Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ ý kiến trình bày của nguyên đơn Công ty T1, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có đầy đủ cơ sở để xác định: Ngày 17/11/2022, ông Lê Sơn T có giao dịch với Công ty T1 thông qua Hợp đồng tín dụng số 3962321. Xét về mặt hình thức, hợp đồng được xác lập bằng văn bản, do người có thẩm quyền của Công ty T1 và ông Lê Sơn T tự nguyện giao kết. Về phía ông T tuy không trực tiếp ký tên vào hợp đồng nhưng có giao kết hợp đồng dưới hình thức chữ ký số. Điều 8 Nghị định 130/2018/NĐ-CPđịnh về giá trị pháp lý của chữ ký số như sau: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CPĐiều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CPđịnh chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:

  • “(1) Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khóa công khai ghi trên chứng thư số đó.
  • (2) Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai ghi trên chứng thư số do một trong các tổ chức sau đây cấp:
    • - Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia;
    • - Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ;
    • - Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;
    • - Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng của các cơ quan, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng của các cơ quan, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số chuyên dùng được quy định tại Điều 40 Nghị định 130/2018/NĐ-CP
  • (3) Khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký”.

Xét thấy, chữ ký số của ông Lê Sơn T được tạo ra trong thời gian Giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA ngày 26/02/2024 có hiệu lực, được cung cấp bởi Công ty TNHH H là đơn vị được thực hiện dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng FPT-CA theo Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng số 527/GP-BTTTT ngày 12 tháng 10 năm 2015 của Bộ T2 nên có giá trị pháp lý. Xét về nội dung, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3962321 ngày 17/11/2022 không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý chí tự nguyện của các bên khi tham gia giao dịch, phù hợp quy định tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3962321 ngày 17/11/2022 có hiệu lực pháp luật.

[3.2] Nguyên đơn Công ty T1 yêu cầu bị đơn ông Lê Sơn T trả tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.102.106 đồng, Hội đồng xét xử nhận định: Theo bản chính Phiếu báo nợ do Ngân hàng T3 cung cấp thì vào ngày 22/11/2022, Công ty T1 đã chuyển số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản của ông Lê Sơn T mở tại Ngân hàng T3, phần nội dung thanh toán có ghi rõ MIRAE ASSET chuyển tiền cho ông Lê Sơn T và số hợp đồng là 3962321, trùng khớp với số của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 17/11/2022 ký kết giữa Công ty T1 với ông T. Về thông tin tài khoản, xét thấy số tài khoản và tên tài khoản thể hiện trên Phiếu báo nợ do Ngân hàng T3 cung cấp đều trùng khớp thông tin do phía ông T cung cấp tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3962321 ngày 17/11/2022. Số tiền 2.310.000 đồng còn lại, ông T nộp phí bảo hiểm. Như vậy, có đầy đủ cơ sở để nhận định Công ty T1 đã cấp tín dụng cho ông Lê Sơn T với khoản vay trị giá 32.310.000 đồng.

Kể từ ngày được giải ngân đến nay, ông Lê Sơn T chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty T1 ASSET được 02 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 3.441.000 đồng. Tạm tính đến ngày 10/7/2024, ông T còn nợ số tiền vốn gốc đồng. Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do ông T không có mặt trong quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được các tài liệu, chứng cứ do ông T xuất trình. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do Công ty T1 giao nộp, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử buộc ông T hoàn trả ngay số tiền vốn gốc 31.102.106 đồng đồng cho Công ty T1, giao nhận tiền tại Công ty T1 hoặc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[3.3] Nguyên đơn Công ty T1 yêu cầu bị đơn ông Lê Sơn T trả tiền lãi trong hạn 18.805.861 đồng, tiền lãi quá hạn: 5.351.521 đồng, tiền lãi chậm trả: 1.434.246 đồng, Hội đồng xét xử nhận định: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông S chỉ thực hiện nghĩa vụ trả tiền đến ngày 11/4/2023. Sau đó không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Nay Công ty T1 yêu cầu ông Lê Sơn T trả tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, tiền lãi chậm trả là phù hợp quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.4] Như vậy, tổng số tiền ông T phải trả cho Công ty T1, tạm tính đến ngày 10/7/2024 là 56.693.734 đồng, giao nhận ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Công ty T1 hoặc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[3.5] Công ty T1 yêu cầu ông T thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 11/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ. Hội đồng xét xử nhận định: Xét yêu cầu của Công ty T1 ASSET là đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty T1 và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết đối với hợp đồng bảo hiểm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí.

[6] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 370, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn : Công ty T1 (Việt Nam):
  2. Buộc ông Lê Sơn T hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 10/7/2024 là 56.693.734 (năm mươi sáu triệu, sáu trăm chín mươi ba nghìn, bảy trăm ba mươi bốn) đồng. Trong đó:

    • - Dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.102.106 đồng.
    • - Tiền lãi trong hạn: 18.805.861 đồng.
    • - Tiền lãi quá hạn: 5.351.521 đồng.
    • - Tiền lãi chậm trả: 1.434.246 đồng.

    Thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, giao nhận tiền tại Công ty T1 (Việt Nam) hoặc cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày 11/7/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Lê Sơn T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì ông Lê Sơn T phải thanh toán lãi, phí phát sinh mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty T1 (Việt Nam) thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty T1 (Việt Nam).

  3. Về án phí:
  4. - Ông Lê Sơn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.834.687 (hai triệu, tám trăm ba mươi bốn nghìn, sáu trăm tám mươi bảy) đồng, ông T chưa nộp tiền án phí.

    - Hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí 1.190.435 (một triệu, một trăm chín mươi nghìn, bốn trăm ba mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026068 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. - Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trúc Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2995/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2995/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa công ty T1 và ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger