Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 299/2023/HS-ST

Ngày 26 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Giới - Ông Lê Như Toản

Thư ký phiên toà: Bà Phùng Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 294/2023/TLST - HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 303/2023/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Quang H; sinh ngày 03 tháng 10 năm 1987; tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ D, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức N và bà Lưu Thị L; có vợ là Tô Thị T; có 02 con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/10/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Tô Thị T, sinh năm 1990; nơi cư trú: tổ D, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Hoàng Quốc Đ – vắng mặt không có lý do

- Người chứng kiến: Anh Đỗ Viết T1, anh Nguyễn Văn Đ1 – vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quang H sử dụng ma túy cần sa từ đầu năm 2023, do không có việc làm ổn định nên H nảy sinh ý định mua ma túy cần sa về bán kiếm lời. Ngày 10/10/2023, thông qua ứng dụng T2, H kết bạn với một người sử dụng tài khoản tên “Dừa” có quảng cáo bán ma túy cần sa, giá 10.000.000 đồng/lạng. Qua nhắn tin trao đổi, “Dừa” nói nếu H đồng ý mua thì sẽ mang ma túy đến địa điểm do H chọn, giao dịch mua bán bằng tiền mặt. Ngày 10/10/2023, H liên hệ qua Telegram với “Dừa” hỏi mua 15.000.000 đồng ma túy cần sa và nói giao hàng tại sảnh chung cư G thuộc tổ A, khu H, phường H, thành phố H, “Dừa” đồng ý và đề nghị giao ma túy làm hai lần (do D không có đủ ma túy để giao một lần). Khoảng 09 giờ ngày 11/10/2023, như đã hẹn, H đến sảnh của chung cư nhận ma túy. Tại đây, H gặp một người đàn ông không quen biết đứng đợi nên H lại hỏi “anh lấy đồ Dừa gửi” thì người này đưa cho H 01 túi nilon bên trong có 02 túi ma túy cần sa, Hưng nhận và trả 15.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cầm về nhà chia thành 32 túi nilon để bán, còn lại một ít cần sa để vào lọ nhựa và 02 túi nilon, mục đích để khi bán hết số cần sa đã chia thì tiếp tục chia nhỏ bán khi có người hỏi mua. Khoảng 21 giờ, ngày 15/10/2023, khi H đang ngồi bán nước chè gần nhà thì có Hoàng Quốc Đ (trú tại: tổ D, khu G, phường H, thành phố H) đến hỏi mua ma túy cần sa. H đã bán cho Đ 01 gói ma túy cần sa với giá 500.000 đồng.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/10/2023, “Dừa” tiếp tục liên lạc với H qua T2, hẹn đến sảnh chung cư G để nhận số ma túy còn lại. Tại đây, H gặp 01 người đàn ông giao hàng không quen biết, người này đưa cho H 01 nilon bên trong có chứa cần sa. Khi H cầm số ma túy đến trước cửa chung cư thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy H vừa mua được tại tay phải của H. H khai là ma túy cần sa, mục đích để bán lại kiếm lời.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Quang H tại tổ D, khu A, phường H, thành phố H, thu giữ: tại ngăn dưới cùng giá để đồ phòng bếp 01 lọ nhựa chứa thực vật khô; 03 cân điện tử mini; 01 lọ thủy tinh bên trong có 31 túi nilon đều chứa thực vật khô. Thu cạnh giá để giày phòng bếp 02 túi nilon chứa thực vật khô; 01 lọ thuỷ tinh bên trong đều chứa chất thực vật khô.

Bản Kết luận giám định số 1545/KL – KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q và Thông báo kết luận giám định số 61/TB - CSMT ngày 25/10/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q thể hiện: chất thực vật khô thu giữ tại tay phải của Trần Quang H ngày 16/10/2023 gửi giám định là ma túy loại cần sa, khối lượng 49.979 gam; chất thực vật khô thu giữ trong lọ nhựa tại ngăn dưới cùng của giá để đồ phòng bếp cạnh cửa ra vào tại nhà riêng của H gửi giám định là ma túy loại cần sa, khối lượng 1,019 gam; chất thực vật khô trong lọ thủy tinh thu trong bếp nhà H giám định là ma túy, loại cần sa, tổng khối lượng là 27,022 gam; chất thực vật khô thu giữ cạnh giá để giày tại phòng bếp trong 02 túi nilon giám định là ma túy, loại cần sa, tổng khối lượng là 87,304 gam.

Vật chứng, tài sản thu giữ: số ma túy cần sa hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại iphone màu vàng gắn 01 sim; 03 cân điện tử mini; 01 lọ nhựa; 02 lọ thủy tinh; 20 vỏ túi nilon; 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip màu đỏ thu của Trần Quang H, cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long để quản lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, Trần Quang H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, H còn khai sau khi mua được ma túy vào ngày 11/10/2023, trên đường về nhà, bị cáo vào chợ cột 3 – thuộc phường H, thành phố H mua 03 cân điện tử mini cùng một ít vỏ túi nilon để về chia nhỏ ma túy bán. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu vàng là tài sản cá nhân, bị cáo có dùng để liên lạc với D hỏi mua ma túy; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip – BKS 14B1 – 501.07, cơ quan Công an thu của bị cáo là tài sản chung của bị cáo và vợ là Tô Thị T mua vào năm 2017, đứng tên Trần Quang H. Chiếc xe này là phương tiện duy nhất của gia đình bị cáo, được mua bằng tiền lao động hợp pháp mà có. Việc bị cáo lấy xe đi lại và mua bán ma túy, vợ bị cáo – chị Tô Thị T không được biết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án - chị Tô Thị T có lời khai tại phiên toà và trong Đơn đề nghị thể hiện: Chị và bị cáo H là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền từ năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng lao động tích cóp mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip – BKS 14B1 – 501.07 vào năm 2017. Đăng ký xe mang tên Trần Quang H ngày 14/8/2017. Đến ngày 16/10/2023, H bị bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và bị cơ quan công an thu giữ chiếc xe trên. Gia đình chị chỉ có chiếc xe này là phương tiện đi lại. Việc bị cáo H sử dụng chiếc xe trên đi mua và bán ma túy, chị không biết. Hoàn cảnh gia đình của chị rất khó khăn, chị phải một mình lao động nuôi hai con nhỏ. Hiện tại, chị không còn phương tiện để đi làm kiếm tiền lo cho gia đình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho chị chiếc xe trên.

Bản Cáo trạng số: 179/CT-VKSQN ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Trần Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Người làm chứng anh Hoàng Quốc Đ có lời khai xác nhận sự việc: bị cáo Trần Quang H có bán cho Đ 01 gói ma túy cần sa với giá 500.000 đồng vào khoảng 21 giờ ngày 15/10/2023, tại quán nước chè của H ở tổ D, khu A, phường H, thành phố H. Đ đã sử dụng hết số ma túy này. Bản thân Đ đã bị cơ quan cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Những người chứng kiến anh Đỗ Viết T1 và anh Nguyễn Văn Đ1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thể hiện: các anh được cơ quan Công an yêu cầu chứng kiến việc tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ đối với Trần Quang H có hành vi tàng trữ 01 túi nilon, trong có chứa thực vật khô. H khai là ma túy cần sa, H tàng trữ với mục đích để bán.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự

+Áp dụng điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 163,26 gam cần sa hoàn lại sau giám định; 02 lọ thủy tinh; 03 cân điện tử mini; 20 vỏ túi nilon; 01 lọ nhựa; 01 sim điện thoại thu giữ của H

Bị cáo Trần Quang H phải nộp lại số tiền 500.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu vàng.

Trả lại cho chị Tô Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip, màu đỏ, biển kiểm soát 14B1- 501.07.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội; bị cáo không có quan điểm tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về tội danh: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. H khai bản thân H sử dụng ma túy, cần sa từ đầu năm 2023. Do không có công ăn việc làm ổn định nên H nảy sinh ý định mua bán ma túy cần sa để kiếm lời. H đã chủ động liên lạc với tài khoản tên “Dừa” thông qua T2 mua ma túy cần sa về chia nhỏ để bán. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 16/10/2023, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Biên bản khám xét, Kết luận giám định, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để xác định: khoảng 21 giờ ngày 15/10/2023, tại khu vực thuộc tổ D, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Trần Quang H có hành vi bán trái phép 01 túi ma tuý cần sa với giá 500.000 đồng cho Hoàng Quốc Đ. Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 16/10/2023, tại tổ A, khu H, phường H, thành phố H, H tàng trữ 49.979 gam ma tuý cần sa thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Đồng thời, H cất giấu tại nơi ở 115,345 gam ma tuý cần sa. Tổng khối lượng ma tuý cần sa H tàng trữ trái phép mục đích để bán là 165,324 gam.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện tội phạm, xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện kiểm sát kết luận tại phiên tòa là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe con người. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy cũng như biết rõ ma tuý cần sa là chất cấm lưu hành nhưng vì vụ lợi đã bất chấp các quy định của pháp luật, tàng trữ ma túy để bán lại cho người khác kiếm lời. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bố bị cáo – ông Trần Đức N là người có công với cách mạng nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Mức hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án:

163,26 gam Cần sa hoàn lại sau giám định trong hộp còn nguyên niêm phong số 1545/KL – KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ; 02 lọ thủy tinh, 03 cân điện tử mini, 20 vỏ túi nilon không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone X), màu vàng đã qua sử dụng, kèm 01 sim thu của bị cáo Trần Quang H là phương tiện bị cáo dùng để giao dịch cho việc mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo bán ma tuý cho Hoàng Quốc Đ là tiền bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên buộc bị cáo phải nộp lại sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip, màu đỏ, biển kiểm soát 14B1-501.07 mang tên Trần Quang H, bị cáo dùng để đi mua ma tuý nhưng quá trình điều tra xác định được đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bị cáo với chị Tô Thị T. Chị T không không biết bị cáo dùng chiếc xe này đi mua bán ma tuý. Cũng xét xe mô tô này là phương tiện duy nhất trong gia đình, chị T hiện đang phải trực tiếp nuôi hai con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chị T đề nghị xin lại chiếc xe về để làm phương tiện đi lại, vì vậy cần tuyên trả lại chiếc xe cho chị T.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Đối với đối tượng tên “Dừa” và người đàn ông giao ma tuý theo H khai, Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với Hoàng Quốc Đ có hành vi mua ma tuý cần sa của Trần Quang H để sử dụng chưa đủ điều kiện để xử lý hình sự. Ngày 25/10/2023, Công an thành phố H đã xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Trần Quang H 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2023.

  2. Căn cứ điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu huỷ: 163,26 gam cần sa hoàn lại sau giám định trong hộp còn nguyên niêm phong số 1545/KL – KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q, 02 lọ thủy tinh, 03 cân điện tử mini, 20 vỏ túi nilon.
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone X), màu vàng kèm 01 sim thu của bị cáo Trần Quang H.
    • Buộc bị cáo Trần Quang H phải nộp lại số tiền 500.000 đồng là tiền bị cáo bán ma tuý cho Hoàng Quốc Đ sung ngân sách Nhà nước.
    • Trả lại cho chị Tô Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip, màu đỏ, biển kiểm soát 14B1- 501.07, số khung RP8M25411HV100964, số máy M256M 4000900, đã qua sử dụng.
    • (Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng số 87/BB-THA ngày 25/12/2023 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
  3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Trần Quang H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
  • - Viện kiểm sát NDTP Hạ Long, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hạ Long; Cơ quan THAHS công an TP Hạ Long
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - Sở tư pháp
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 299/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 299/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H mua bán ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger