|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 299/2024/HS-ST Ngày 23 - 08 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quý
Bà Hoàng Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 301/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 07 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 07 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Trường M; sinh ngày 01 tháng 07 năm 1993; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Lô B MBQH F, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thanh B (đã chết); Con bà: Trần Thị H; Gia đình chỉ có mình bị cáo; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2008, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây mất trật tự công cộng”. Tạm giữ, Tạm giam: bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 22/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Có mặt.
- Lê Tuấn A; sinh ngày 17 tháng 01 năm 1994; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Số nhà B Q, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Thanh V; Con bà: Hoàng Thị T; Gia đình chỉ có mình bị cáo; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: : Ngày 13/4/2023, bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, mức phạt 1.500.000 đồng (Chưa nộp phạt); Nhân thân: Năm 2019, bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tạm giữ, tạm giam: bị tạm giữ từ ngày 15/3/2024 đến ngày 21/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng và bán lại kiếm lời nên khoảng 02 giờ ngày 15/3/2024, Nguyễn Trường M một mình đến khu vực ngã ba gần khu chung cư H, phường L, thành phố T để tìm mua ma tuý. Tại đây, M gặp một người thanh niên tự giới thiệu tên là V1 bán cho M 22 viên ma túy hồng phiến đựng trong 01 gói giấy bạc gồm 20 viên màu đỏ và 02 viên màu xanh, với giá 1.000.000 đồng. M cất giấu số ma tuý này vào người để sử dụng và để bán kiếm lời khi có người mua.
Đến 10 giờ cùng ngày, tại khu vực trước số nhà B Q, phường Đ, thành phố T, M đã bán cho Lê Tuấn A 10 viên ma tuý hồng phiến với giá 1.000.000 đồng và thoả thuận khi nào có tiền thì Tuấn A trả tiền cho M sau.
Khoảng 18 giờ cùng ngày, Lê Tuấn A giấu trong người 10 viên hồng phiến trên và 01 gói nilon đựng ma tuý đá đến thuê phòng 303, nhà nghỉ B1 ở địa chỉ B Q, phường Đ, thành phố T để sử dụng ma túy. Tại đây, Tuấn A tự chế bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: vỏ bình nhựa có nắp, ống hút nhựa, ống nhựa và giấy bạc rồi một mình sử dụng hồng phiến. Đến 20 giờ 15 phút, Tổ công tác Công an thành phố T kiểm tra phòng 303, nhà nghỉ B1, phát hiện bắt quả tang đối với Lê Tuấn A về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (4x8)cm đựng 02 túi nilon gồm: 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (1,5x1,5)cm chứa các hạt tinh thể màu trắng là ma túy đá và 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (2x3)cm chứa 03 mảnh viên nén màu đỏ là ma túy hồng phiến; 01 vỏ bình nhựa màu trắng có nắp màu cam, gắn ống hút nhựa màu vàng, trên thân bình gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng và mảnh giấy bạc cuộn tròn, 01 bật lửa màu hồng. Lê Tuấn A khai báo số ma túy trên là của Tuấn A mua của Nguyễn Trường M. Tuy nhiên, qua đấu tranh và tiến hành đối chất, Nguyễn Trường M chỉ thừa nhận bán ma túy hồng phiến cho Tuấn A, không thừa nhận bán ma túy đá cho Tuấn A nên không có căn cứ xác định số ma túy đá của Tuấn A do đâu mà có.
Đến 08 giờ 30 phút ngày 16/3/2024, Nguyễn Trường M xin đầu thú và khai nhận về hành vi bán 10 viên ma túy hồng phiến cho Lê Tuấn A vào ngày 15/3/2024, tại trước số nhà B Q, phường Đ, thành phố T và giao nộp 08 viên ma túy hồng phiến (06 viên màu đỏ và 02 viên màu xanh) của M đang cất giấu để bán kiếm lời.
Ngoài ra, Nguyễn Trường M còn tự thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 15/3/2024, Nguyễn Trường M đi đến nhà Phạm Văn H1, sinh năm 1984 tại địa chỉ A P, phường B, thành phố T thì gặp Hoàng M1 (Minh đó), sinh năm 1988 trú tại A T, phường Đ, thành phố T đang ngồi trong phòng ngủ của H1, còn H1 đang nằm ngủ. Nguyễn Trường M ngồi nói chuyện cùng với Hoàng M1 khoảng 30 phút thì H1 dậy đi làm. Khi H1 ra khỏi nhà, Nguyễn Trường M nhìn thấy trong góc phòng ngủ của H1 có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy hồng phiến gồm: bình nhựa màu trắng đục lỗ gắn ống nhựa, ống hút, giấy bạc và bật lửa nên nảy sinh ý định sử dụng ma túy. Nguyễn Trường M lấy bộ dụng cụ để ra giường và rủ Hoàng M1 sử dụng ma túy cùng. Nguyễn Trường M1 lấy ra 2 viên hồng phiến đưa 1 viên cho Hoàng M1. Hoàng M1 để viên hồng phiến lên giấy bạc dùng bật lửa đốt và hút khói qua bộ dụng cụ. Nguyễn Trường M lấy viên hồng phiến còn lại để lên giấy bạc dùng bật lửa đốt hút qua bộ dụng cụ rồi đặt bộ dụng cụ xuống. Một lúc sau có Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1995, trú tại A L, phường B, thành phố T đi đến nhà H1 thì Nguyễn Trường M tiếp tục rủ T1 sử dụng hồng phiến và lấy ra 02 viên hồng phiến bỏ lên giấy bạc. T1 tự dùng bật lửa và sử dụng dụng cụ để đốt hút hết 02 viên hồng phiến. Sau đó T1 để bộ dụng cụ xuống giường, ngồi nói chuyện một lúc thì đi về. Khoảng 17 giờ cùng ngày thì Nguyễn Trường M và Hoàng M1 cũng rời khỏi nhà H1.
Ngày 16/3/2024, Phạm Văn H1 giao nộp 01 bộ dụng cụ gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 đoạn ống nhựa, 01 bật lửa cất giấu tại số nhà A P, phường B, thành phố T mà trước đó H1 dùng để sử dụng ma túy một mình (BL 06). H1 trình bày việc Nguyễn Trường M, Hoàng M1 và Nguyễn Trọng T1 sử dụng ma túy tại nhà H1 thì H1 không biết, không tham gia. Nguyễn Trường M và Nguyễn Trọng T1 khẳng định bộ dụng cụ H1 giao nộp chính là bộ dụng cụ mà họ đã dùng để sử dụng ma túy tại nhà H1 vào chiều ngày 15/3/2024.
Ngày 16/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trường M, kết quả: không phát hiện thu giữ gì.
Kết quả test nhanh nước tiểu thu giữ của Nguyễn Trường M, Phạm Văn H1, Nguyễn Trọng T1: Dương tính với M2.
Kết quả test nhanh nước tiểu thu giữ của Lê Tuấn A: Dương tính với Methamphetamine và MDMA.
Kết luận giám định số 1123/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Các hạt tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Lê Tuấn A, gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 0,201 gam, loại Methamphetamine;
- 03 mảnh viên nén màu đỏ thu giữ của Lê Tuấn A là ma túy, có tổng khối lượng 0,150 gam, loại Methamphetamine.
- 06 viên nén màu đỏ thu giữ của Nguyễn Trường M là ma túy, có tổng khối lượng 0,587 gam, loại Methamphetamine;
- 02 viên nén màu xanh gửi thu giữ của Nguyễn Trường M là ma túy, có tổng khối lượng 0,204 gam, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 1124/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Trường M, Phạm Văn H1, Nguyễn Trọng T1.
Quá trình điều tra, Nguyễn Trường M và Lê Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng: 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành chứa mẫu ma tuý thu giữ trong vụ án hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy thu giữ của Lê Tuấn A (01 chai nhựa trắng có nắp màu cam, 01 ống hút nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa); 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy do Phạm Văn H1 tự nguyện giao nộp (01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa, 01 đoạn ống nhựa, 01 bật lửa) là vật chứng của vụ án đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá để xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 229/CT-VKSTPTH ngày 12 tháng 07 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS) và “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS, truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A1 về tội “Tàng trữ phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Áp dụng khoản điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Nguyễn Trường M mức án từ 7 (bảy) năm đến 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Nguyễn Trường M mức án từ 30 (ba mươi) đến 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng Điều 55 BLHS, buộc bị cáo Nguyễn Trường M phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 9 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù đến 10 (mười năm) năm 3 (ba) tháng tù, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời gian chấp hành hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nào có giá trị, không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Lê Tuấn A mức án từ 18(mười tám) tháng đến 21 (hai mốt) tháng tù.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS):
- Tịch thu tiêu hủy số lượng ma tuý thu giữ của Nguyễn Trường M và Lê Tuấn A sau giám định được đựng trong 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành;
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy thu giữ của Lê Tuấn A (01 chai nhựa trắng có nắp màu cam, 01 ống hút nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa).
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy do Phạm Văn H1 tự nguyện giao nộp (01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa, 01 đoạn ống nhựa, 01 bật lửa).
Các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 184/2024/THA ngày 17/07/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T.
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng Heroine thu giữ của P sau giám định còn là 0,016g (không phẩy không một sáu gam);
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng Heroine thu giữ của G sau giám định còn là 2,547g (hai phẩy năm bốn bảy gam);
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng Heroine thu giữ của H1 sau giám định còn là: 14,175g (mười bốn phẩy một bẩy năm gam).
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Trọng T1, Lê Tuấn A: Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Đối với Hoàng M1 khai nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý chiều ngày 15/3/2024 tại nhà Phạm Văn H1 ở số nhà A P, phường B, thành phố T. Tuy nhiên ngày 20/6/2024, Cơ quan điều tra mới tiền hành triệu tập, làm việc được với Hoàng M1. Kết quả test nhanh ma tuý trong nước tiểu của Hoàng M1 âm tính với các chất ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển Công an thành phố T tiếp tục xác minh xử lý theo quy định.
Đối với Phạm Văn H1 mặc dù dụng cụ và địa điểm sử dụng ma tuý là của H1, do H1 quản lý; tuy nhiên, khi các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì H1 không có mặt tại nhà. H1 không có hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm để người khác sử dụng ma tuý hoặc để mặc người khác sử dụng trái phép chất ma tuý nên hành vi của H1 không đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình điều tra xác định vào trưa ngày 13/3/2024, H1 đã sử dụng trái phép chất ma tuý một mình tại nhà, Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý.
Đối với Lê Văn T2, sinh năm 1985 ở B Q, phường Đ, thành phố T là quản lý nhà nghỉ B1 tại thời điểm xảy ra vụ việc đã chủ động báo cáo và phối hợp với Cơ quan Công an trong quá trình kiểm tra phòng nghỉ, phát hiện hành vi vi phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với nam thanh niên đã bán ma tuý cho Nguyễn Trường M: do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Trong lời nói sau cùng,các các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với với nhau và phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Về trách nhiệm hình sự:
Khoảng 10 giờ ngày 15/3/2024, tại khu vực trước số nhà B Q, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Trường M đã có hành vi bán cho Lê Tuấn A 10 viên ma tuý hồng phiến với giá 1.000.000 đồng.
Đến 18 giờ cùng ngày, Lê Tuấn A giấu số ma tuý trên cùng 01 túi ma tuý đá trong người đến thuê phòng 303, nhà nghỉ B1 có địa chỉ B Q, phường Đ, thành phố T để sử dụng thì bị Công an thành phố T bắt quả tang, thu giữ các dụng cụ sử dụng ma tuý và 01 túi nilon đựng ma tuý đá có khối lượng 0,201g Methamphetamine; 03 mảnh viên nén là ma tuý hồng phiến có khối lượng 0,150g Methamphetamine.
Ngoài hành vi bán ma tuý cho Tuấn A, Nguyễn Trường M còn khai nhận có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho Hoàng M1 và Nguyễn Trọng T1 vào khoảng 14 giờ ngày 15/3/2024, tại số nhà A P, phường B, thành phố T và giao nộp 08 viên ma tuý hồng phiến có tổng khối lượng 0,791g Methamphetamine.
Như vậy, tổng khối lượng ma tuý Nguyễn Trường M bán phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,941g Methamphetamine. Khối lượng ma tuý Lê Tuấn A tàng trữ phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,351g Methamphetamine.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trường M đã có hành vi mua bán trái phép ma túy Methamphetamine với trọng lượng là 0,941g phạm vào khoản 1 Điều 251 BLHS, Nguyễn Trường M đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho Hoàng M1 và Nguyễn Trọng T1 phạm vào điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS, bị cáo Lê Tuấn A tàng trữ 0,351g Methamphetamine mục đích để sử dụng phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đúng với đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa và đúng với Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng
Tội phạm mà bị cáo M1 thực hiện thuộc loại nghiêm trọng và rất nghiêm trọng; Tội phạm mà bị cáo Tuấn A thực hiện thuộc nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an và an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm đến quyền chính sách độc quyền về quản lý ma túy của nhà nước và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; động cơ mục đích phạm tội của bị cáo M1 là để kiếm lời từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, bị cáo Tuấn A tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng.. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Thời gian các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam sẽ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân:
Năm 2008, bị cáo M1 bị Công an phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây mất trật tự công cộng”
Ngày 13/4/2023, bị cáo Tuấn A bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, mức phạt 1.500.000 đồng (Chưa nộp phạt); Năm 2019, bị cáo Tuấn A bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo M1 và bị cáo A khai trung thực các tình tiết của vụ án là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo M1 có mẹ là người có công với cách mạng, đầu thú đối với tội “mua bán trái phép chất ma tuý” và tự thú đối với tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS đối với tội “mua bán trái phép chất ma tuý” và điểm r, khoản 1, khoản 2 Điều 51 đối với tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội mà các bị cáo phạm phải ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, bị cáo M1 phạm tội lần đầu về tội mua bán mua bán trái phép chất ma tuý nên miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.
[7] Về vật chứng:
- Số lượng ma tuý thu giữ của Nguyễn Trường M và Lê Tuấn A sau giám định được đựng trong 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy thu giữ của Lê Tuấn A (01 chai nhựa trắng có nắp màu cam, 01 ống hút nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa).
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy do Phạm Văn H1 tự nguyện giao nộp (01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa, 01 đoạn ống nhựa, 01 bật lửa).
[8] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường M phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Nguyễn Trường M: 30 (ba mươi) tháng tù.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường M phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Nguyễn Trường M: 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 55 BLHS: Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cả hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 16/03/2024).
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS:
Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Lê Tuấn A: 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 15/03/2024).
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tuyên xử:
- Tịch thu tiêu hủy số lượng ma tuý thu giữ của Nguyễn Trường M và Lê Tuấn A sau giám định được đựng trong 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành;
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy thu giữ của Lê Tuấn A (01 chai nhựa trắng có nắp màu cam, 01 ống hút nhựa màu vàng, 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa).
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy do Phạm Văn H1 tự nguyện giao nộp (01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa, 01 đoạn ống nhựa, 01 bật lửa).
Các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 184/2024/THA ngày 17/07/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc mỗi bị cáo Nguyễn Trường M, Lê Tuấn A phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm).
* Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND, TAND, Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá; - CA thành phố Thanh Hoá; - THAHS, DS thành phố Thanh Hoá; - VKSND thành phố Thanh Hoá; - Lưu HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Tân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Quý |
Hoàng Thị Nga |
Nguyễn Thanh Tân |
Bản án số 299/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; mua bán trái phép chất ma tuý; tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 299/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; Mua bán trái phép chất ma tuý; Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng và mua bán trái phép chất ma tuý
