|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 299/2024/HS-ST Ngày: 05-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Thắm;
- 2/ Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân H - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 271/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/HSST-QĐ ngày 20/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1993, tại tỉnh Khánh Hòa; hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh K, sinh năm 1974 và bà Đồng Thị Thanh H1, sinh năm 1973; bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt trong trường hợp truy nã và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Bà Phạm Thị Ngọc N, sinh năm 1990; HKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn T, sinh năm 1986; HKTT: Thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Ông Phạm Vinh Q, sinh năm 1974; HKTT: Khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị Lan A và bị hại bà Phạm Thị Ngọc N là bạn bè với nhau, do cùng làm công nhân chung công ty tại phường C, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương từ năm 2017. Cuối năm 2018, bị cáo A đến sống chung phòng trọ với bà N tại nhà trọ Nguyễn Quốc T1 thuộc khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Sáng ngày 02/02/2019, bị cáo A hỏi mượn bà N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 73E1-205.42 để đi làm thuê bán dưa hấu tết tại thành phố T, tỉnh Bình Dương và hẹn qua tết sẽ trả xe thì bà N đồng ý. Sau đó, bị cáo A sử dụng xe đi làm thuê từ ngày 02/02/2019 đến 03/02/2019 thì không được thuê đi làm nữa.
Do không có tiền tiêu xài, bị cáo A nảy sinh ý định đem xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 73E1-205.42 đi cầm cố lấy tiền nên vào ngày 04/02/2019, bị cáo A điều khiển xe đến tiệm C thuộc khu phố D, phường M, thành phố B do ông Phạm Vinh Q làm chủ và yêu cầu cầm xe. Bị cáo A nói xe của chị mình nhờ đem cầm cố và đưa cho ông Q 01 giấy mua bán xe. Ông Q tin tưởng nên đồng ý cầm xe với số tiền 4.000.000 đồng và có lập hợp đồng cầm cố. Tiền có được, bị cáo A tiêu xài hết.
Đến ngày 22/02/2019, bị hại N từ quê quay lại phòng trọ gặp bị cáo hỏi xe thì bị cáo A nói dối là xe cho bạn mượn đi về tỉnh Long An thì bị công an xử phạt hành chính giữ xe và phải nộp phạt 3.800.000 đồng. Ngày 01/4/2019, bị cáo A giả vờ dẫn bà N đến khu vực huyện Đ, tỉnh Long An để tìm bạn mượn xe bị công an xử phạt nhưng không gặp. Trên đường quay lại tỉnh Bình Dương, do bà N gặng hỏi thì bị cáo A nói xe bị bạn của bị cáo A mượn đem cầm cố tại tiệm cầm đồ Vinh Q nhưng chưa có tiền để chuộc lại. Sau đó, bà N yêu cầu bị cáo A chuộc xe trả cho bà N thì bị cáo A bỏ trốn, không liên lạc được. Đến ngày 18/6/2019, bà N trình báo vụ việc đến Công an phường M, thành phố B. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý theo thẩm quyền.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số 73E1-205.42;
- - 01 Giấy bán, cho, tặng, xe;
- - 01 Hợp đồng cầm cố;
- - 01 Chứng minh nhân dân số [...] tên Nguyễn Thị Lan A (bản photo).
Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 25/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) B, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 73E1-205.42 đã qua sử dụng trị giá 20.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- - Ngày 21/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng xanh, biển số 73E1-205.42, 01 giấy bán cho tặng xe cho bà Phạm Thị Ngọc N.
- - Về phần trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Vinh Q yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Lan A trả lại số tiền 4.000.000 đồng tiền nhận cầm cố xe. Bị cáo đồng ý trả nhưng hiện chưa có tiền.
Đối với bị cáo A, ngày 11/6/2024 bị cáo A bị bắt giữ theo Quyết định truy nã số 1277E/QĐTN-CQĐT-ĐTTH ngày 29/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.
* Tại Cáo trạng số 275/CT-VKSBC ngày 07/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan A từ 12 tháng đến 14 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Ngày 21/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng xanh, biển số 73E1-205.42, 01 giấy bán cho tặng xe cho bà Phạm Thị Ngọc N nên không xem xét giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 4.000.000 đồng ông Q nhận cầm cố của bị cáo. Buộc bị cáo bồi thường cho ông Q số tiền 4.000.000 đồng.
* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Lan A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 275/CT-VKSBC ngày 07/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố B, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
* Theo đơn xin xét xử vắng mặt bị hại (bà N) trình bày: Vào ngày 02/02/2019 bị cáo Nguyễn Thị Lan A có mượn 01 xe môtô hiệu Yamaha Exicter, biển số 73E1-205.42 và sau đó chiếm đoạt xe mô tô trên bằng cách đem xe đi cầm cố rồi bỏ trốn. Bà N đã được cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố B trả lại 01 xe môtô hiệu Yamaha Exicter biển số 73E1-205.42 và giấy tờ xe liên quan. Bà không yêu cầu bị cáo Anh bồi thường gì khác. Bà đã có lời khai trong hồ sơ vụ ánn. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của bà để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Về hình phạt bà đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo mức hình phạt theo quy định của pháp luật.
* Theo đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông T) trình bày: Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án. Ông đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Theo đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn dân sự (ông Q) trình bày: Khoảng 10 giờ ngày 04/02/2019, ông có nhận cầm cố 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển số 73E1-205.42 của bị cáo Nguyễn Thị Lan A với giá 4.000.000 đồng. Nay ông chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường 4.000.000 đồng là số tiền ông cầm cố xe của bị cáo Lan A. Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Ông đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai nguyên đơn dân sự và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 02/02/2019, tại nhà trọ Nguyễn Quốc T1 thuộc khu phố H, phường C, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thị Lan A có hành vi mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 73E1-205.42 trị giá 20.000.000 đồng của bà Phạm Thị Ngọc N để đi làm, nhưng sau đó đem xe đi cầm cố lấy tiền tiêu xài hết rồi bỏ trốn. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 275/CT-VKSBC ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo Anh thực hiện là ít nghiêm trọng do có mức cao nhất khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, về nhận thức bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Chỉ do động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân nhưng lười lao động, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Để góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự, giữ gìn nếp sống văn minh của địa phương, Hội đồng xét xử xem xét quyết định áp dụng mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[6] Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.
[7] Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Về xử lý vật chứng: Ngày 21/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng xanh, biển số 73E1-205.42, 01 giấy bán cho tặng xe cho bà Phạm Thị Ngọc N là phù hợp.
[9] Trách nhiệm dân sự:
[9.1] Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[9.2] Đối với số tiền 4.000.000 đồng, ông Phạm Vinh Q nhận cầm cố của bị cáo. Ông Q yêu cầu bị cáo trả lại và bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[12] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; khoản 1 Điều 46; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lan A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan A 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không đặt ra xem xét.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho ông Phạm Vinh Q số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Án phí:
- + Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- + Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo:
- + Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/12/2024).
- + Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VVăn Quang Bảo |
Bản án số 299/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 299/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Lan A
