|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 299/2024/HS-PT Ngày 08 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Xuân Quang; |
| Các Thẩm phán: | Ông Trần Nam Phương; |
| Ông Vũ Thế Phương. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2024/HS-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024; do có kháng cáo của bị cáo La Võ Tuấn Kiệt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 18-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú;
- Bị cáo có kháng cáo:
La Võ Tuấn Kiệt, sinh ngày 05/10/2005 tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Ấp 6, xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp 1, xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn Biên, sinh năm 1978 và bà Võ Thị Oanh, sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/02/2023 đến ngày 03/3/2023; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Ngày 18/02/2023, Phạm Hoàng Phi Thường và Trương Hùng Mạnh có mâu thuẫn xuất phát từ việc buổi chiều cùng ngày Mạnh bị Phi Thường dồn ép dẫn đến ngã xe ở khu vực Bách Hóa Xanh tại ngã 4 đèn tín hiệu đường Trà Cổ, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, Mạnh kể lại sự việc trên cho Nguyễn Đình Tuấn nghe. Tuấn gọi điện cho Phi Thường để dàn xếp nhưng Phi Thường không đồng ý mà còn chửi bới nên hai bên thách thức đánh nhau.
Buổi tối ngày 19/02/2023, Phạm Hoàng Phi Thường và Phạm Minh Phong cầm theo 02 con dao tự chế dài khoảng 1,2m đuổi chém Mạnh và Tuấn tại tiệm nước đá của ông Trần Minh Nghĩa tại đường Trà Cổ, huyện Tân Phú nhưng không đánh được.
Bực tức về việc bị Phi Thường và Phong đuổi đánh nên vào tối ngày 20/02/2023, Tuấn gọi điện rủ Nguyễn Thanh Thiện, La Võ Tuấn Kiệt, Nguyễn Dương Phước Giàu, Ngô Tuấn Khang, Trương Hùng Mạnh, Nguyễn Tấn Phát; Thiện rủ Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Văn Đức, Lương Vồ Phi, Võ Danh Nhân, Lợi (là bạn Nhân) tập trung tại tiệm nước đá của ông Trần Minh Nghĩa. Tại đây, Tuấn kể cho cả nhóm nghe về việc bị Phi Thường và Phong đuổi chém vào tối ngày 19/02/2023 và Tuấn rủ cả nhóm cùng nhau đi đánh nhóm Phi Thường thì cả nhóm đồng ý. Thực hiện ý định, Tuấn chuẩn bị sẵn hung khí gồm 01 cây ba chỉa, 03 cây dao phóng lợn, 01 cây dao. Ngoài ra, Tuấn còn chỉ đạo cho La Võ Tuấn Kiệt đi đến Ngã 4 Hương, đường Tà Lài, huyện Tân Phú để lấy thêm hung khí là 03 cây dao phóng lợn. Khi chuẩn bị xong hung khí, Tuấn nói cả nhóm nếu tìm được nhóm Phi Thường thì tất cả xông vào chém thì cả bọn đều đồng ý.
Khi đi, cả nhóm điều khiển xe mô tô và bố trí như sau: Thiện chở Kiệt cầm 01 cây dao phóng lợn, Đức chở Tuấn cầm 01 cây dao phóng lợn, Hùng Mạnh cầm bình xịt hơi cay chở Khang, Thường chở Phú cầm 01 cây dao phóng lợn, Nhân đi một mình, Lợi chở Giàu cầm theo 01 dao tự chế ...Khi đi trên đường từ thị trấn Tân Phú vào xã Trà Cổ tìm nhóm Phi Thường và Phong thì cả bọn điều khiển xe mô tô nẹt bô gây âm thanh lớn, cầm hung khí dơ lên trên, cà
2
dao xuống đường gây tóe lửa làm mất an ninh trật tự và sợ hãi cho người đi đường.
Khi cả bọn vào đến gần nhà Phi Thường và Phong thì được biết Phi Thường và Phong không có ở nhà nên cả bọn quay về tiệm nước đá của ông Trần Minh Nghĩa. Lúc này có thêm Nguyễn Thanh Tính đến để cùng đi đánh nhau. Tại đây, Phong gọi điện cho Thiện để thách thức đánh nhau. Thiện nói cho Tuấn biết về việc nhóm của Phong thách thức đánh nhau. Nghe vậy, Tuấn tiếp tục nói cả bọn quay lại tìm nhóm Phi Thường và Phong để đánh nhau. Khi đi đánh nhau lần hai, Trương Hùng Mạnh, Nguyễn Tấn Phát, Võ Danh Nhân và Lợi không tham gia mà bỏ về. Lúc này, các bị cáo ở lại tiếp tục tham gia đi đánh nhau gồm có: Nguyễn Đình Tuấn, Nguyễn Thanh Thiện, La Võ Tuấn Kiệt, Nguyễn Dương Phước Giàu, Nguyễn Thanh Tính, Ngô Tuấn Khang, Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Văn Đức, Lương Vồ Phi. Lúc này, do không có đủ xe mô tô để đi nên Nguyễn Đình Tuấn mượn Phan Thanh Duy 01 xe mô tô làm phương tiện di chuyển để đi đánh nhau. Duy biết và đồng ý cho Tuấn mượn xe để đi đánh nhau. Xe mô tô của Duy sau đó được đưa cho Nguyễn Dương Phước Giàu và Nguyễn Thanh Tính điều khiển để đi vào gặp nhóm của Phi Thường.
Khi đi, cả nhóm tiếp tục điều khiển xe mô tô và mang theo những hung khí đã được chuẩn bị sẵn từ trước. Trên đường đi, cả nhóm tiếp tục có hành vi điều khiển xe mô tô nẹt bô gây âm thanh lớn, cầm hung khí dơ lên trên, cà dao xuống đường gây tóe lửa làm mất an ninh trật tự. Khi tất cả vào đến khu vực Bàu Minh, xã Trà Cổ, huyện Tân Phú thì thấy nhóm của Phạm Hoàng Phi Thường, Phạm Minh Phong sử dụng hung khí đang tụ tập ở ven đường. Lúc này, Nguyễn Đình Tuấn la to “tụi nó kìa” nên cả hai nhóm xông vào nhau, đứng cách nhau khoảng 10 mét, dùng hung khí như dao phóng lợn, dao tự chế hò hét về phía của nhau làm mất an ninh trật tự. Khi hai nhóm đang hò hét thì có một số người dân can ngăn nên cả hai nhóm giải tán đi về.
Về hậu quả: Hành vi của các bị cáo làm quần chúng nhân dân hoang mang, lo lắng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật tự trị an tại khu vực đường Trà Cổ thuộc xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 cây ba chỉa, 05 cây dao phóng lợn, 02 con dao, 02 vỏ chai bia, hiện đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú.
3
- Những đồ vật khác liên quan đến tội phạm, sau khi phạm tội các bị cáo đã vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm nhưng chưa có kết quả.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 18-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú đã quyết định:
- Các điểm a, b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Tuấn, Giàu, Thiện, Kiệt, Tính, Phát, Văn Thường, Phú, Phi, Nhân, Đức, Duy; Áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Tuấn, Thiện. Áp dụng thêm Điều 90 và Điều 91 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Đức, Thiện, Kiệt, Phát, Phú, Phi, Tính; Áp dụng thêm khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Phi.
- Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Phi Thường, Phong;
- Áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 2 và Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho các bị cáo Phát, Văn Thường, Phú, Phi, Nhân, Duy, Phi Thường, Phong;
- Áp dụng thêm Điều 36 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Duy;
- Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Đình Tuấn, Nguyễn Dương Phước Giàu, Nguyễn Thanh Thiện, Nguyễn Văn Thường, Võ Danh Nhân, La Võ Tuấn Kiệt, Nguyễn Tấn Phát, Nguyễn Văn Phú, Lương Vồ Phi, Nguyễn Thanh Tính, Phan Thanh Duy, Nguyễn Văn Đức, Phạm Minh Phong, Phạm Hoàng Phi Thường phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Đình Tuấn 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến ngày 21/7/2023.
4
- Bị cáo Nguyễn Dương Phước Giàu 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến ngày 21/7/2023.
- Bị cáo Nguyễn Văn Thường 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023 đến ngày 21/7/2023.
- Bị cáo Nguyễn Thanh Thiện 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 22/02/2023 đến ngày 03/3/2023.
- Bị cáo Nguyễn Thanh Tính 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.
- Bị cáo Nguyễn Văn Đức 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2023.
- Bị cáo La Võ Tuấn Kiệt 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 22/02/2023 đến ngày 03/3/2023.
- Bị cáo Võ Danh Nhân 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Tấn Phát 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Văn Phú 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Lương Vồ Phi 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Phạm Hoàng Phi Thường 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Phạm Minh Phong 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
5
- Bị cáo Phan Thanh Duy 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính kể từ ngày Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nhận được Quyết định thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án và đề nghị:
Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về kháng cáo: Bị cáo phạm tội là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế; hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo kháng cáo cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh:
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nội dung Bản án sơ thẩm; bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2] Về kháng cáo và hình phạt:
2.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại
6
Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
2.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp đơn xác nhận gia đình chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; hiện nay gia đình có khó khăn về kinh tế có xác nhận của UBND xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên áp dụng cho bị cáo.
2.3. Về hình phạt:
Bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 101 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm 04 tháng là phù hợp, có sự phân hóa vai trò đối với các bị cáo khác trong vụ án. Trong vụ án này, bị cáo không phải là người chủ mưu, cầm đầu, không xúi giục những người khác tham gia phạm tội, bị cáo chỉ là người giúp sức không đáng kể, có vai trò thứ yếu. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; nhân thân chưa từng có tiền án, tiền sự; phạm tội với vai trò thứ yếu không đáng kể, có nơi cư trú rõ ràng; nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; áp Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/20/22/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự; giữ nguyên mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và chính sách của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo La Võ Tuấn Kiệt không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
7
[4] Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo La Võ Tuấn Kiệt; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HS-ST ngày 18-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú về hình phạt do có tình tiết mới.
1. Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng khoản 2 Điều 318; Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số: 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo La Võ Tuấn Kiệt 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo La Võ Tuấn Kiệt cho Ủy ban nhân dân xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người được hưởng án treo thì được thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo La Võ Tuấn Kiệt không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
8
3. Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo khác;
biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
9
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Nam Phương - Vũ Thế Phương |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
10
Bản án số 299/2024/HS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 299/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
