Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 299/2024/DSST

Ngày 06 tháng 6 năm 2024

V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân
  2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Kim An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: thuộc trường hợp không tham gia phiên tòa

Trong ngày 06/6/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2024/TLST-DS ngày 08/01/2024 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2024/QĐXXST-DS ngày 15/5/2024, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Trụ sở: 2 N, phường V, Quận C, Tp Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ liên hệ: Số C Quốc lộ B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1974. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số C đường L, tổ H, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 08/11/3 và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ông Nguyễn Văn N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 21/06/2022, bà Bùi Thị L có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng (Hợp đồng) bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ thu nhập của bà Bùi Thị L, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng (số thẻ 970403 - 0994) với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng để sử dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Bùi Thị L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.100.000 đồng đối với Thẻ tín dụng số 970403 - 0994. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà Bùi Thị L đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 5.000.000 đồng. Tổng số dư nợ thẻ tín dụng (Nợ gốc, lãi, phí) bà Bùi Thị L chưa thanh toán cho Ngân hàng tỉnh đến ngày 17/10/2023 là 42.756.855 đồng. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Bùi Thị L (Thẻ tín dụng số 970403 - 0994 chuyển nợ xấu ngày 15/11/2022) và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 17/10/2023, bà Bùi Thị L còn nợ Ngân hàng với số tiền cụ thể như sau: Dư nợ gốc: 29.183.851 đồng; Lãi quá hạn: 13.573.004 đồng; Tổng cộng: 42.756.855 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà Bùi Thị L có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà Bùi Thị L vẫn chưa thanh toán khoản nợ thẻ tín dụng quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Buộc bà Bùi Thị L phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/10/2023 là 42.756.855 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi hai triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi lăm đồng). Trong đó, Nợ gốc: 29.183.851 đồng; Lãi quá hạn: 13.573.004 đồng.
  2. Buộc bà Bùi Thị L có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 17/10/2023 cho đến khi trả dứt nợ thẻ tín dụng theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn bà Bùi Thị L trình bày: Bà L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án tuy nhiên bà L có nộp cho Tòa án đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn bà L trình bày bà có vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần S, bà đã nhận tiền vay nhưng không đóng tiền lãi, nguyên nhân do bà không có việc làm lại bị đau ốm thường xuyên nên bà không có tiền trả. Bà L đề nghị Tòa án cho bà được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án kể cả tham gia phiên tòa xét xử.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, có nộp bản tự khai đề ngày 06/6/2024 và bản Bảng tóm tắt sao kê dư nợ hồ sơ của bà Bùi Thị L thể hiện, tính đến ngày 06/6/2024 thì số nợ của bà L còn nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần S là 51.558.703 đồng, trong đó nợ gốc là 29.183.851 đồng và nợ lãi là 22.374.852 đồng và yêu cầu bà L phải trả số tiền này cho ngân hàng, yêu cầu thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Cấp tín dụng” theo quy định tại Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Luật Các tổ chức tín dụng), thuộc trường hợp “Tranh chấp về hợp đồng dân sự” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Bị đơn bà Bùi Thị L cư trú tại C L, tổ H, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, bị đơn vắng mặt, nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt.
  4. Bị đơn vắng mặt, nhưng thống nhất phần nợ gốc và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần nợ lãi, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
  5. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/06/2022 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng; Phiếu yêu cầu ngày 27/6/2022 về việc đã bà G đã nhận Thẻ tín dụng số thẻ 970403 – 0994 cùng sự thừa nhận của bị đơn, có đủ căn cứ xác định bà Bùi Thị L có vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần S với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, lãi suất 33,2%/năm để sử dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện là có cơ sở.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 29.100.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, bà L đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 5.000.000 đồng. Việc bà L không thanh toán nợ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, vi phạm điều khoản về nghĩa vụ trả nợ của khách hàng quy định tại Khoản 24.1, Điều 24 của điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã ký và vi phạm quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Theo bản tự khai ngày 06/6/2024 và Bảng tóm tắt sao kê dư nợ hồ sơ của bà Bùi Thị LNgân hàng Thương mại cổ phần S gửi cho Tòa án ngày 06/6/2024 thì số nợ hiện nay của bà L còn nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần S là 51.558.703 đồng, trong đó nợ gốc là 29.183.851 đồng và nợ lãi là 22.374.852 đồng và ngân hàng yêu cầu bà L phải trả số tiền này cho ngân hàng.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Luật Các tổ chức tín dụng thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng... thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”, do đó, đối với hợp đồng vay tài sản mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên quy định tại hợp đồng.

Như vậy yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc, lãi quá hạn theo hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại cổ phần S là có cơ sở để chấp nhận.

  1. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, Nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của mình không được Tòa án chấp nhận theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại các điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  3. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 90, Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  2. Buộc bà Bùi Thị L trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc là 29.183.851 đồng, nợ lãi là 22.374.852 đồng; tổng cộng là 51.558.703 đồng. Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S kèm với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/6/2022 giữa bà L và Ngân hàng, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bùi Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.577.935 (Hai triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn, chín trăm ba mươi lăm) đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 1.068.922 (Một triệu, không trăm sáu mươi tám nghìn, chín trăm hai hai mươi) đồng; theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017295 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

  1. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Hòa

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 299/2024/DSST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 299/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger