|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG Bản án số: 299/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 12 - 2025 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thanh Tân
- Bà Nguyễn Thúy Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Linh Thi là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Đăng Khoa – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc G, sinh năm 1989; CCCD số [...]; nơi cư trú: số A ấp Đ, xã C, tỉnh Vĩnh Long (có yêu cầu vắng mặt);
2. Bị đơn: Ông Đỗ Thanh K, sinh năm 1980; CCCD số [...]; nơi cư trú: số A tổ D ấp P, xã C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc G trình bày:
Bà Lê Thị Ngọc G với ông Đỗ Thanh K do mai mối và tiến đến hôn nhân năm 2007 và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật năm 2011. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, thường hay cãi vã nhau, ông K không quan tâm chăm sóc gia đình nên giữa bà G với ông K không sống chung từ năm 2017 cho đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà G yêu cầu được ly hôn với ông K.
- Về con chung: có 02 con chung tên Đỗ Lê Đăng H, sinh ngày 28/02/2008 và Đỗ Lê Tường L, sinh ngày 12/3/2013, hiện 02 con chung đang sinh sống với ông K, khi ly hôn bà G thống nhất giao 02 con chung cho ông K tiếp tục nuôi dưỡng, bà G không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Đỗ Thanh K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - An Giang:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.
- Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án, thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là phù hợp Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Ngọc G đối với ông Đỗ Thanh K; về con chung: có 02 con chung tên Đỗ Lê Đăng H, sinh ngày 28/02/2008 và Đỗ Lê Tường L, sinh ngày 12/3/2013, giao con chung cho ông K tiếp tục nuôi dưỡng, bà G không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết. Bà G phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Bà Lê Thị Ngọc G yêu cầu ly hôn, nuôi con với ông Đỗ Thanh K nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền: Ông Đỗ Thanh K là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại xã C, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.
[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Bà Lê Thị Ngọc Giàu C đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của nguyên đơn không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà G.
Bị đơn ông Đỗ Thanh K đã được Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng ông K không đến tham gia phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của bị đơn không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa bà Lê Thị Ngọc G với ông Đỗ Thanh K là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vì mâu thuẫn vợ chồng, bà G cho rằng không hoà hợp, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, ông K không chăm sóc gia đình nên giữa bà G với ông K không sống chung từ năm 2017 cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà G yêu cầu được ly hôn với ông K là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận.
Về con chung có 02 con chung tên Đỗ Lê Đăng H, sinh ngày 28/02/2008 và Đỗ Lê Tường L, sinh ngày 12/3/2013, hiện 02 con chung đang sinh sống với ông K, bà G thống nhất giao 02 con chung cho ông K tiếp tục nuôi dưỡng, bà G không phải cấp dưỡng nuôi con. Trong suốt quá trình tố tụng ông K không có ý kiến phản hồi hoặc tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử giao cho ông K được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp, khi các bên phát sinh tranh chấp về thay đổi việc nuôi con hoặc cấp dưỡng thì có quyền khởi kiện vụ kiện khác.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
[3] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc G, bà Lê Thị Ngọc G được ly hôn với ông Đỗ Thanh K.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Lê Đăng H, sinh ngày 28/02/2008 và Đỗ Lê Tường L, sinh ngày 12/3/2013. Giao 02 con chung cho ông Đỗ Thanh K được tiếp tục nuôi dưỡng, bà Lê Thị Ngọc G không phải cấp dưỡng nuôi con.
Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005377 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 12; - THADS tỉnh An Giang; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Diệu |
Bản án số 299/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 299/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Ngọc Giàu yêu cầu ly hôn Đỗ Thanh Kiệt
