Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - THANH HÓA

Bản án số: 299/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/12/2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đăng Thiện
  2. Ông Trịnh Trung Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 141/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993; số định danh cá nhân: 038193049541; địa chỉ: Thôn A, xã Y, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm 1995; số định danh cá nhân: 038095040046; địa chỉ: Thôn V, xã Y, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn L qua việc tìm hiểu, lấy nhau là do hai bên tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y (nay là xã Y), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 02/11/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023, sau đó thì đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L thường xuyên bài bạc, vay nợ, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Chị đã cố gắng chịu đựng, hàn gắn tình cảm để vợ chồng chung sống với nhau, nhưng anh L không thay đổi, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Từ tháng 12/2023 thì vợ chồng chính thức ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 04/10/2018 và cháu Lê Nhã U, sinh ngày 14/03/2021. Hiện nay cháu Lê Nhã U đang ở với chị, còn cháu Lê Tuấn K đang ở với anh Lê Văn L. Quan điểm của chị H sau khi ly hôn là mỗi người sẽ trực tiếp nuôi dưỡng một con chung. Chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Nhã U, đề nghị giao cháu Lê Tuấn K cho anh Lê Văn L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng; Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 15 tháng 10 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh Lê Văn L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y (nay là xã Y), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 02/11/2017. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2023 thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong gia đình. Đến tháng 12/2023 thì vợ chồng sống ly thân. Nay chị H yêu cầu ly hôn, quan điểm của anh là mong vợ chồng hàn gắn tình cảm để cùng chăm sóc con, tuy nhiên chị H vẫn đòi ly hôn, nên anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Lê Văn L xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 04/10/2018 và cháu Lê Nhã U, sinh ngày 14/03/2021. Hiện nay cháu Lê Tuấn K đang ở với anh, còn cháu Lê Nhã U đang ở với chị H. Ly hôn, quan điểm anh L là không muốn chia tách hai con, nên anh L xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp nếu chị H mà xin nuôi cả hai con chung thì anh đồng ý để chị H được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ: Anh Lê Văn L xác định là không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản xác minh lập ngày 02/12/2025, đại diện UBND xã Y, cho biết:

Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L có quan hệ là vợ chồng. Chị H và anh L đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y (nay là xã Y), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 02/11/2017, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44/2017. Quá trình chung sống vợ chồng chị H và anh L có 02 con chung là cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 04/10/2018 và cháu Lê Nhã U, sinh ngày 14/03/2021. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng, địa phương không nắm bắt được vì gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải ở cơ sở.

Tại “Bản tự khai” do cháu Lê Tuấn K viết ngày 28/10/2025 gửi Tòa án, có thể hiện quan điểm là nếu bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu là xin được ở với bố (anh L).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:

I. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

II. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ: Điểm a khoản 1 điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  • Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Văn L.
  • Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L có 02 con chung là cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 04 tháng 10 năm 2018 và cháu Lê Nhã U, sinh ngày 14 tháng 3 năm 2021.

Giao cháu Lê Tuấn K cho anh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Nhã U cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị H và anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  • Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
  • Về án phí: Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Lê Văn L, hiện đang cư trú tại: Thôn V, xã Y, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L tự nguyện kết hôn, đã được UBND xã Đ, huyện Y (nay là xã Y), tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02/11/2017, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, tình cảm giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình, bất đồng về quan điểm sống, nên đã thường xuyên để xảy ra việc cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Từ tháng 12/2023 vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, chị H một mực đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn; Tại phiên tòa hôm nay anh L cũng có ý kiến thể hiện quan điểm là đồng ý ly hôn. Do đó, cần căn cứ vào quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh L.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L có 02 con chung là cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 04/10/2018 và cháu Lê Nhã U, sinh ngày 14/03/2021.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H có ý kiến đề nghị giải quyết cho chị H và anh L mỗi người được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung, chị H xin được trực tiếp nuôi cháu Lê Nhã U, đề nghị giao cháu Lê Tuấn K cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng; anh L có quan điểm thể hiện nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung hoặc giao cả hai con chung cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng; Con chung trên 7 tuổi là cháu Lê Tuấn K có lời khai thể hiện nguyện vọng xin được ở với bố (anh L); Thực tế hiện nay, thì con chung là cháu Lê Nhã U đang ở với chị H, con chung là cháu Lê Tuấn K đang ở với anh L. Xét chị H và anh L đều có các điều kiện để trực tiếp nuôi con; ngoài ra vợ chồng có 02 con chung cần phải có người trực tiếp nuôi và đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con, cần thiết giao cho cả hai bên vợ chồng mỗi người được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cụ thể: cháu Lê Nhã U hiện đang ở với chị H, nên giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu Lê Tuấn K hiện đang ở với anh L, nên giao cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, như vậy sẽ thuận tiện trên việc chăm sóc con chung và phù hợp quy định pháp luật. Về cấp dưỡng: Chị H và anh L mỗi người đã trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung và không có yêu cầu về cấp dưỡng, do đó hai bên không ai phải cấp dưỡng.

[4] Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L đều có ý kiến không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L.
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L có 02 (hai) con chung là cháu Lê Tuấn K, sinh ngày 04/10/2018 và cháu Lê Nhã U, sinh ngày 14/03/2021.

Giao con chung là cháu Lê Nhã U cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung là cháu Lê Tuấn K cho anh Lê Văn L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  1. Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn L không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị H đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000911 ngày 02/10/2025 của Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Như vậy, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 8 - Thanh Hoá;
  • - THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - P. kiểm tra nghiệp vụ và THA, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Yên Định;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 299/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 299/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger