Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------o0o-------

Bản án số: 299/2024/HNGĐ -ST

Ngày: 31/7/2024

V/v tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa
  • - Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Khanh
  • 2. Bà Bùi Thị Hảo

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Hiệp - Cán bộ Toà án nhân dân quận Long Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Ông Bùi Bách Thành - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 129/2024/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hoa, sinh năm 1990

HKTT: P 1x, CTY, KNZ, Ngô Thì N, phường Hà C, Hà Đông, TP Hà Nội

Hiện ở: Đội X, Đặng C, xã Trung N, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên

(Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà)

2. Bị đơn: Anh Ngô Thế C, sinh năm 1988

HKTT: P 1x, CTY, KNZ, Ngô Thì N, phường Hà C, Hà Đông, TP Hà Nội

Hiện ở: Căn X, CT0YC KĐT mới Việt H, Đức G, Long Biên, Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật của Anh Ngô Thế C: Bà Vũ Thị N (mẹ đẻ)

Trú tại: Căn X, CT0YC KĐT mới Việt H, Đức G, Long Biên, Hà Nội

(Anh C và bà N có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn, Chị Lê Thị H trình bày:

Chị Lê Thị H kết hôn với Anh Ngô Thế C trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng bất đồng, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cách xây dựng gia đình. Từ suy nghĩ đến cách sống đều không hiểu và không chia sẻ được với nhau. Vì vậy vợ chồng có nhiều bất đồng nên tình cảm bị rạn nứt. Năm 2017, Anh C bị u lành ống sọ hầu nên đã phải mổ. Thời điểm đó chị đã muốn ly hôn nhưng do Anh C bị bệnh nên chị lại thôi. Sau đó Anh C lại trở lại bình thường và đi làm. Thời điểm này Anh C lúc ở với chị lúc ở với mẹ Anh C tại Hà Đông. Cuộc sống vợ chồng tôi không còn tình cảm. Vợ chồng anh chị đã ly thân với nhau từ năm 2018 đến nay. Sau khi ly thân Anh C sống cùng với mẹ chồng chị. Anh C hiện nay đang điều trị các bệnh đái tháo đường, suy tuyến yên, u lành ống sọ hầu, suy giáp sau điều trị, thiểu năng vỏ thượng thận. Anh C đến nay vẫn đang làm tại Phòng kinh doanh của Điện lực Hưng Yên. Nên mặc dù Tòa án đã giải thích nhưng chị xin từ chối làm thủ tục giám định khả năng nhận thức cho Anh C. Vợ chồng chị đến nay không còn tình cảm, chị xin được ly hôn với Anh C.

Về con chung anh chị có 02 con chung là Ngô Ngọc Khuê, sinh ngày 26/8/2015, Ngô Ngọc Nhi, sinh ngày 17/11/2017. Hiện nay hai con đang ở với chị. Khi ly hôn, chị xin nuôi hai con và không yêu cầu Anh C đống góp phí tổn nuôi con chung. Hiện nay chị đang kinh doanh tự do bán hàng quần áo trên mạng, thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 15.000.000 đồng/ 1 tháng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí ly hôn: Chị xin chịu theo quy định của pháp luật.

*Bị đơn Anh Ngô Thế C và người giám hộ cho Anh C là bà Vũ Thị Nụ trình bầy:

Về điều kiện và thủ tục kết hôn nhất trí với lời trình bầy của chị Hoa. Năm 2017, Anh C có bị bệnh u não nên phải tiến hành mổ vì vậy trí nhớ của anh giảm sút, không nhớ được nhiều. Từ năm 2017 đến nay anh đã 5 lần mổ não. Hiện nay do anh vừa tiến hành phẫu thuật đang nghỉ theo chế độ chữa bệnh và điều trị tại nhà. Như các lần trước, cứ mổ xong một thời gian khi đỡ bệnh là anh lại đi làm. Anh và bà Nụ xin được từ chối đi giám định pháp y tâm thần. Anh đang bị bệnh nên không thể gách vác gia đình và chăm lo cho vợ con. Nay Chị H làm đơn xin ly hôn, anh nhất trí vì vợ chồng sống không có hạnh phúc. Anh chị ly thân từ năm 2018 đến nay.

Về con chung anh chị có 02 con chung là Ngô Ngọc Khuê, sinh ngày 26/8/2015, Ngô Ngọc Nhi, sinh ngày 17/11/2017. Hiện nay hai con đang ở với chị Hoa. Khi ly hôn, anh đồng ý để Chị H nuôi hai con và về việc đóng góp phí tổn nuôi con chung, anh xin đóng góp tùy tâm, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có xin xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tại phiên toà phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Lê Thị H và Anh Ngô Thế C. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Ngô Ngọc Khuê, sinh ngày 26/8/2015, Ngô Ngọc Nhi, sinh ngày 17/11/2017. Anh chị thỏa thuận để Chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu giải quyết về việc đóng góp phí tổn nuôi con nên đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận.

Về tài sản chung của anh chị: do anh chị xin tự thỏa thuận, không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng: Chị Lê Thị H khởi kiện vụ án về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với bị đơn là Anh Ngô Thế C hiện đang cư trú tại Căn 308, CT08C KĐT mới Việt Hưng, Đức Giang, Long Biên, Hà Nội nên việc TAND quận Long Biên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS.

Tại phiên tòa, Chị H và Anh C đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy đủ điều kiện xét xử vắng mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt Anh C Chị H là phù hợp quy định tại điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với Anh Ngô Thế C, hiện nay gia đình và Anh C trình bầy anh đang điều trị bệnh. Theo chuẩn đoán của Bệnh viện Việt Đức ngày 07/2/2024, anh bị suy tuyến yên, bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa, u lành ống sọ hầu, suy giáp sua điều trị, thiểu năng vỏ thượng thận, rối loạn tâm thần thực tổn hoặc triệu chứng không việt định, rối loạn cân bằng nước, điện giải. Hiện nay Anh C đang ở với mẹ là bà Vũ Thị Nụ và hiện công tác tại Công ty Điện lực Hưng Yên. Tòa án nhân dân quận Long Biên đã giải thích pháp luật, yêu cầu chị Hoa, bà Nụ, Anh C về việc đưa Anh C đi giám định tâm thần để xác định khả năng nhận thức của Anh C. Nhưng các đương sự đều từ chối giám định. Do đó TAND quận Long Biên không có cơ sở để giám định tâm thần đối với Anh C. Nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Tòa án đã đưa bà Vũ Thị Nụ là mẹ đẻ của Anh C tham gia vụ án với tư cách là người đại diện hợp pháp cho Anh C.

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và Anh Ngô Thế C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Xuân La, quận Tây Hồ Hà Nội ngày 05/08/2015. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện, vợ chồng anh chị chung sống phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng trong cách sống, vợ chồng không có hạnh phúc, ly thân từ năm 2018 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, cả hai anh chị đều xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, anh chị đều đồng ý ly hôn. Nhưng do Anh C không đến Tòa án làm việc vì vậy Tòa án không thể tiến hành việc hòa giải và lập biên bản hòa giải thành làm căn cứ cho việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Xét thấy mâu thuẫn giữa Chị H và Anh C đã trầm trọng, kéo dài, thực tế cuộc sống chung không tồn tại, tình cảm vợ chồng không còn khả năng để hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị H đối với Anh C.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Ngô Ngọc Khuê, sinh ngày 26/8/2015, Ngô Ngọc Nhi, sinh ngày 17/11/2017. Anh chị thỏa thuận để Chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu giải quyết về việc đóng góp phí tổn nuôi con nên đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận.

Xét thấy Chị H và Anh C đều thống nhất để Chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khuê và cháu Nhi. Cháu Khuê cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu Anh C đóng góp phí tổn nuôi con chung nên tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với Anh C cho đến khi nào các con trưởng thành hoặc có yêu cầu mới theo quy định của pháp luật.

Xét thấy việc thỏa thuận của anh chị là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

* Về tài sản chung: các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xet.

* Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Lê Thị H và Anh Ngô Thế C.
  2. Về nuôi con chung:
    1. Giao cháu Ngô Ngọc Khuê, sinh năm 26/8/2015, cháu Ngô Ngọc Nhi, sinh năm 17/11/2017 cho Chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
    2. Về việc đóng góp phí tổn nuôi con chung các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc và thăm con chung.

  3. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
  4. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 18681 ngày 02/5/2024 tại Chi cục thi hành án quận Long Biên. Nay chuyển thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm.

Chị Hoa, Anh C, người đại diện hợp pháp của Anh C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • -TAND Tp. Hà Nội
  • -VKSND q. Long Biên
  • -Chi cục THADS q. Long Biên
  • -UBND phường Xuân La, Tây Hồ, HN
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà




Đặng Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 299/2024/HNGĐ -ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN về ly hôn

  • Số bản án: 299/2024/HNGĐ -ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Lê Thị H và Anh Ngô Thế C.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger