TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 299/2024/DS-ST Ngày: 08-8-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phương Thảo
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Như Thủy;
2. Ông Nguyễn Đình Rành.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tú – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 12/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 188/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: Lầu H, số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức danh: Tổng Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978; Là người đại diện ủy quyền theo Giấy ủy quyền số 2826/2024/UQ-TGĐ ngày 02/5/2024. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Lê Trần Phi N1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số B đường P, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 11 năm 2023 và tại các bản tự khai, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S do ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 06/01/2017, ông Lê Trần Phi N1 có ký với Ngân hàng TMCP S (Sau đây gọi là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ôngLê Trần Phi N1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông N1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 157.828.860 (Một trăm năm mươi bảy triệu tám trăm hai mươi tám ngàn tám trăm sáu mươi) đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 155.716.397 (Một trăm năm mươi lăm triệu bảy trăm mười sáu ngàn ba trăm chín mươi bảy) đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
- + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
- + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
- + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
- + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông N1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 56.882.450 (Năm mươi sáu triệu tám trăm tám mươi hai ngàn bốn trăm năm mươi) đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.9% (= lãi suất trong hạn 2.6% x 150%) (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 08/8/2024, ông N1 còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 56.882.450 (Năm mươi sáu triệu tám trăm tám mươi hai ngàn bốn trăm năm mươi) đồng, L quá hạn: 77.126.721 (Bảy mươi bảy triệu một trăm hai mươi sáu ngàn bảy trăm hai mươi mốt) đồng. Tổng cộng: 134.009.171 (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm linh chín ngàn một trăm bảy mươi mốt) đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông N1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông N1 vẫn chưa thanh toản khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Trần Phi N1 phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 08/8/2024 là 134.009.171 (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm linh chín ngàn một trăm bảy mươi mốt) đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 56.882.450 (Năm mươi sáu triệu tám trăm tám mươi hai ngàn bốn trăm năm mươi) đồng, L quá hạn là 77.126.721 (Bảy mươi bảy triệu một trăm hai mươi sáu ngàn bảy trăm hai mươi mốt) đồng. Tất cả trả làm một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, ông Lê Trần Phi N1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 09/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng
Đại diện nguyên đơn xác nhận chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân bị đơn ông Lê Trần Phi N1 trả nợ, khoản nợ không liên quan đến bất kỳ ai khác.
Ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
* Bị đơn ông Lê Trần Phi N1 đã được Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết triệu tập hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không đến làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 188/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, TP.:
Về Tố tụng:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý được quy định tại các Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện Kiểm sát và cho các đương sự đúng quy định tại Điều 195, Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa
Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 85, Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí dân sự: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Trần Phi N1 thanh toán số tiền còn thiếu là 134.009.171 (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm linh chín ngàn một trăm bảy mươi mốt) đồng. Bị đơn ông Lê Trần Phi N1, sinh năm 1991 có địa chỉ cư trú tại số B đường P, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Bị đơn đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn xác nhận việc cho bị đơn vay để tiêu dùng cá nhân nên chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn thanh toán số tiền còn nợ như trên, không yêu cầu trách nhiệm liên đới vợ chồng nên đề nghị Tòa án không triệu tập vợ của bị đơn vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Xét bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn nhưng vẫn không có ý kiến phản đối. Do đó, Tòa án không triệu tập vợ của bị đơn tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Trần Phi N1 phải thanh toán tổng số tiền còn thiếu tính đến ngày 08/8/2024 là 134.009.171 (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm linh chín ngàn một trăm bảy mươi mốt) đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 56.882.450 (Năm mươi sáu triệu tám trăm tám mươi hai ngàn bốn trăm năm mươi) đồng, L quá hạn: 77.126.721 (Bảy mươi bảy triệu một trăm hai mươi sáu ngàn bảy trăm hai mươi mốt) đồng. Yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Theo kết quả trả lời Phiếu yêu cầu xác minh số 182/XM-TA ngày 11/4/2024 của Công an phường P, Quận G thì: “Đương sự Lê Trần Phi N1, sinh năm 1991 có Hộ khẩu thường trú và đang cư ngụ tại số B đường P, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ cho bị đơn các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 188/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 91, Điều 94, Điều 95 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh, trình bày ý kiến của mình và phải chịu hậu quả của việc vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như các chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Ngân hàng thương mại cổ phần S hoạt động các lĩnh vực tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần (Mã số doanh nghiệp: 0301103908) của Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố H cấp. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 06/01/2017 giữa Ngân hàng với ông N1, thì Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng cho ông N1. Xét, chủ thể ký kết, nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 và điểm b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên buộc các bên phải thực hiện theo thỏa thuận Hợp đồng.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 157.828.860 (Một trăm năm mươi bảy triệu tám trăm hai mươi tám ngàn tám trăm sáu mươi) đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 155.716.397 (Một trăm năm mươi lăm triệu bảy trăm mười sáu ngàn ba trăm chín mươi bảy) đồng.
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bị đơn vẫn không thanh toán số tiền còn nợ. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngày 01/10/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 56.882.450 (Năm mươi sáu triệu tám trăm tám mươi hai ngàn bốn trăm năm mươi) đồng làm nợ gốc, áp dụng tại thời điểm hiện tại.
Xét, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Căn cứ Điều 357 của Bộ luật Dân sự 2015:
“1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”
Căn cứ Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Căn cứ Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của ngân hàng N2 thì lãi suất cơ bản tính từ ngày 01/12/2010 là 9%/năm. Như vậy, lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất cho vay quá hạn tối đa là 13,5%/năm, tương đương 1,125%/tháng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Thỏa thuận lãi suất là cao so với quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên Ngân hàng thương mại cổ phần S có chức năng hoạt động tín dụng nên phần lãi suất do các bên thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Do vậy Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 06/01/2017 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định của pháp luật và có cơ sở nên chấp nhận.
Về thời gian trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền gốc, tiền lãi tính đến hết ngày 08/8/2024 là 134.009.171 (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm linh chín ngàn một trăm bảy mươi mốt) đồng, tất cả trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu của nguyên đơn không trái quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất do hai bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 06/01/2017 kể từ ngày 09/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận hợp đồng nên chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bị đơn có nghĩa vụ phải trả nợ cho nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần S, ông Lê Trần Phi N1 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- - Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S và bị đơn ông Lê Trần Phi N1.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
2.1. Buộc bị đơn ông Lê Trần Phi N1 có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 08/8/2024 là 134.009.171 (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm linh chín ngàn một trăm bảy mươi mốt) đồng, tất cả trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 09/8/2024, bị đơn ông Lê Trần Phi N1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 06/01/2017 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Lê Trần Phi N1 phải chịu án phí là 6.700.459 (Sáu triệu bảy trăm ngàn bốn trăm năm mươi chín) đồng.
- Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.827.054 (Hai triệu tám trăm hai mươi bảy ngàn không trăm năm mươi bốn) đồng theo Giấy thu tiền tạm ứng án, lệ phí Tòa án số [...] ngày 02/01/2024, với mã thông báo nộp tiền YMSSPLPHHF và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0037814 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
4. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phương Thảo |
8
Bản án số 299/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 299/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGAN HANG TMCP S- LE TRAN PHI N1 - tranh chap hợp đồng tín dụng
