|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 298/2024/HS-ST Ngày: 27/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Tưởng Thị Huyền |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Đặng Quốc Thái |
| Bà Lê Thị Huyền |
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải -Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 224/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2024/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 88/16.9.2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1984; Giới tính: nam; HKTT và nơi ở hiện nay: Đội 2, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Trọng H; Con bà: Phùng Thị Kim L. Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Tống Thị B, sinh năm: 1986; có 01 con, sinh năm 2016.
- Tiền án, tiền sự: không;
- Nhân thân:
- Bản án số 98/2018/HS-ST ngày 27/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, xử phạt 22 tháng tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đã chấp hành xong.
- Bản án số 78/2020/HSST ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, xử phạt 24 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt
2. Họ và tên: Nguyễn Viết C, sinh năm 1984; Giới tính: nam; HKTT: TỔ G, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện nay: Số C, ngõ A V, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Quý D, Đã chết; Con bà: Vũ Thị N. Anh, chị, em ruột: Gia đình có 04 người, bị cáo là con thứ tư. Vợ: Lê Thị Hải Y, sinh năm 1983; có 03 con (lớn, sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013).
- Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024 đến ngày 20/5/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt
- Người bị hại:
- Anh Phùng Quang D1, sinh năm 1996; HKTT và nơi ở: khu H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Hoàng Quốc H1, sinh năm 2003; hiện trú tại: số D, ngõ H, đường T, huyện T, thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 5/2024, Nguyễn Minh Đ rủ Phạm Hồng H2 sinh năm 1987; HKTT: tổ A, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng (là người Đức quen biết trong thời gian chấp hành án ở trại giam T2, Thanh Hóa) đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền chia nhau, H2 đồng ý. Sau đó, Đ lên mạng xã hội đặt mua 01 bộ vam phá khóa để sử dụng phá ổ khóa điện của xe máy. Đ và H2 thống nhất với nhau: H2 là người điều khiển xe máy của Đ chở Đ ngồi sau đi quanh khu vực quận H, Hà Nội. Khi phát hiện thấy tài sản (xe máy) sơ hở, không có người trông giữ thì Đ là người trực tiếp sử dụng vam phá khóa mở ổ khóa điện để lấy trộm xe còn H2 là người cảnh giới, nếu bị phát hiện thì H2 sẽ điều khiển xe máy chở Đ bỏ chạy. Từ đầu tháng 5/2024 Đ cùng H2 thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 04/5/2024, Đ và H2 hẹn gặp nhau ở khu vực cầu T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội đi xuống khu vực phường K, quận H, Hà Nội tìm tài sản để trộm cắp, cả hai phát hiện tại trước cửa số nhà L T, khu Đ, phường K, quận H có 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 36F1-232.85 của anh Hoàng Quốc H1 sinh năm 2003 đang dựng trên vỉa hè. Quan sát thấy xe có khóa cổ, không khóa càng Đ sử dụng vam phá khóa đã mua từ trước để bẻ ổ khóa, còn H2 ngồi trên xe máy cách chỗ Đ khoảng 02 mét để cảnh giới. Sau khi mở được khóa, Đ điều khiển chiếc xe máy vừa lấy trộm được còn H2 điểu khiển chiếc xe máy BKS 36B3-161.54 bỏ chạy về khu vực L, quận H. Sau đó, Đ lên mạng xã hội vào 01 trang Facebook và để lại thông tin, thì có 01 người liên hệ đến tài khoản Zalo của Đ (là “BruceLee” đăng ký bằng số điện thoại 0936.429.xxx) hỏi mua chiếc xe trên. Số tài khoản Zalo của người này Đ không nhớ (sau khi giao dịch, Đ đã dặn người này xóa hết nội dung tin nhắn), hẹn gặp nhau ở khu vực công viên L, quận H để bán xe với giá 2.000.000 đồng. Sau khi bán được chiếc xe máy trên, Đ và H2 chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng, số tiền trên Đ đã chi tiêu cá nhân hết.
- Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ 00 ngày 11/5/2024, Đ hẹn gặp H2 tại khu vực sau siêu thị M, sau đó cả hai đi đến trước cửa số nhà B L KĐT P, quận H phát hiện có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 29T2-116.83 của anh Phùng Quang D1 sinh năm 1996; HKTT: H, phường H, quận H, Hà Nội, xe không khóa cổ, không khóa càng, không có người trông giữ nên cả hai rủ nhau trộm cắp. Huấn ngồi chờ trên xe máy cảnh giới cho Đ vào lấy xe máy cách đó khoảng 5-7m, rồi dắt chiếc xe này vào trong ngõ cách đấy khoảng 15 mét. Sau đó, Đ dùng tuốc-nơ-vit tháo mặt trước của xe máy rồi đấu điện để nổ máy. Khi nổ được máy, Đ điều khiển xe vừa lấy trộm được còn H2 điều khiển chiếc xe máy 36B3-161.54 bỏ chạy về khu vực L, quận H. Đ dùng điện thoại sử dụng tài khoản “Nguyễn Minh Đ” để rao bán chiếc xe trên mạng xã hội Facebook. Khoảng 60 phút thì Nguyễn Viết C sử dụng tài khoản Zalo “Văn Rinh” liên hệ với Đ hỏi mua xe máy BKS 29T2-116.83. Đức chụp hình ảnh của chiếc xe máy, gửi qua Zalo cho C và thỏa thuận bán chiếc xe máy trên với giá 5.200.000 đồng, C đồng ý. Đ và C hẹn gặp nhau ở khu vực đối diện công viên L để giao dịch. Tại đây, Đ nói với C “xe đấu điện, xe không có giấy tờ”. Cân kiểm tra xe thấy xe không có chìa khóa, lại được đấu điện, xe không có giấy tờ nên C biết chiếc xe máy này do Đ phạm tội mà có nhưng vì hám lợi, nên C vẫn đồng ý mua xe máy trên của Đ để bán lại kiếm lời. Sau khi nhận tiền, Đ và H2 chia nhau mỗi người 2.600.000 đồng, số tiền trên Đ đã chi tiêu hết. Đối với chiếc xe máy BKS 29T2-116.83, Cân mang về sử dụng và bán cho 01 người không quen biết với giá 5.800.000 đồng.
Đến ngày 16/5/2024, Đ cùng H2 đang đi lang thang ở khu vực khu đô thị H thuộc phường V, H, Hà Nội tìm xe sơ hở để trộm cắp thì bị tổ tuần tra Công an phường V hành chính. Đ và H2 bỏ chạy thì Đ bị lực lượng Công an phường V giữ lại còn H2 chạy thoát. Lực lượng công an thu giữ trên người Đ 01 tay công phá khóa bằng kim loại, 05 chùm chìa khóa, 01 cờ lê, 01 tua vít Đ sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp. Tổ tuần tra đã đưa Đ về trụ sở Công an để làm việc. Tại cơ quan công an Nguyễn Minh Đ đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp nêu trên.
Ngày 17/5/2024, Nguyễn Viết C đã đến Công an phường V, quận H xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trên.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo BKS 36B3-161.54, số khung RLCN5P1108Y011883, số máy 5P11-011883 đã qua sử dụng; 01 (một) cờ lê băng kim loại kích thước 25cm; 01 (một) tuộc nơ vít bằng kim loại cán bằng cao su kích thước 20cm; 01 (một) tay công bằng kim loại cán bằng cao su kích thước 15cm; 05 (năm) chùm chìa khóa các loại trong đó có nhiều loại chìa khóa xe máy; 01 (một) chiếc điện thoại di động, màu đen, nhãn hiệu Philips Xenium, bên trong có sim số 0349811917; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0968457436, 0865279733; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0963081844; 02 (hai) USB; Số tiền 4.020.000 đồng là tiền do Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Viết C tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 85 ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận H, kết luận: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 36F1-232.85, số khung 068971, số máy 1151143, đã qua sử dụng, chưa thu được vật chứng, có trị giá 4.664.000 đồng; 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 29T2-116.83, số khung 226121, số máy 2723021, đã qua sử dụng, chưa thu được vật chứng, có trị giá 19.065.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 23.729.000 đồng”.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, BKS 36B3-161.54, số khung RLCN5P1108Y011883, số máy 5P11-011883: Tại Bản kết luận giám định số 4318/KL-KTHS ngày 17/6/2024 kết luận số khung, số máy của chiếc xe máy trên là nguyên thủy. Chủ sở hữu chiếc xe máy trên là anh Lê Văn T sinh năm 1991; HKTT: Thôn A, D, T, Thanh Hóa. Anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, ít sử dụng nên đã cho chị Vũ Thị Hương T1 sinh năm 2002; HKTT: Đại Phú, S, Tuyên Q (là cháu ruột của anh T) chiếc xe máy trên. Ngày 21/3/2024, chị T1 đã bán lại cho anh Trịnh Văn V sinh năm 1995; HKTT: xã H, huyện N, tỉnh Nam Định (là chủ cửa hàng sửa xe máy Hải V1 tại số D ngõ F Hồ T, phường M, quận C, Hà Nội) với giá 1.250.000 đồng. Anh V1 sửa chữa lại chiếc xe rồi bán cho Nguyễn Minh Đ với giá 3.700.000 đồng.
Đối với đối tượng Phạm Hồng H2, quá trình điều tra xác định: Chỉ có lời khai của bị can Nguyễn Minh Đ khai nhận đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với H2. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Đ nhận dạng Huấn, khai thác đoạn video thu thập được nhưng không rõ nét hình ảnh về đối tượng, đồng thời, nhiều lần triệu tập nhưng H2 vắng mặt ở địa phương. Cơ quan điều tra ra Quyết định truy tìm đối với Phạm Hồng H2 nhưng chưa truy tìm được đối tượng. Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, chưa đủ căn cứ vững chắc khởi tố bị can đối với H2 về tội trộm cắp tài sản. Ngày 14/8/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định số 5155/QĐ-ĐTTH tách hành vi và tài liệu liên quan đối với đối tượng Phạm Hồng H2 sinh năm 1987; HKTT: Tổ A, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với người đã hỏi mua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 36F1-232.85, số khung 068971, số máy 1151143 mà Nguyễn Minh Đ đã trộm cắp của anh Hoàng Quốc H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã rà soát và ra thông báo truy tìm vật chứng, nhưng đến nay chưa có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự: Hai chiếc xe máy Honda Wave RSX, BKS 36F1-232.85 của anh Hoàng Quốc H1 và Honda Wave màu đen BKS 29T2-116.83 của anh Phùng Quang D1 đến nay chưa thu hồi được. Bị hại là anh H1 có đơn yêu cầu bồi thường số tiền 4.664.000 đồng, anh D1 có đơn yêu cầu bồi thường số tiền 19.065.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 220/CT-VKS-HĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Nguyễn Minh Đức về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Nguyễn Viết C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Viết C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông duy trì quyền công tố: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Viết C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- -Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 01 năm 06 tháng tú đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ tạm giam 16/5/2024.
- Áp dụng khoản khoản 1 Điều 323, điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Nguyễn Viết C từ 09 - 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải bồi thường cho những người bị hại anh Phùng Quang D1 số tiền 19.065.000đ và bồi thường cho anh Hoàng Quốc H1 số tiền: 4.664.000đ.
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Minh Đ nộp số tiền 3.420.000₫.
Đối với số tiền bị cáo Nguyễn Viết C nộp là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cờ lê bằng kim loại kích thước 25cm; 01 (một) tua vít bằng kim loại cán bằng cao su kích thước 20cm; 01 (một) tay công bằng kim loại cán bằng cao su kích thước 15cm; 05 (năm) chùm chìa khóa các loại trong đó có nhiều loại chìa khóa xe máy;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Novou BKS: 36B3-161.54, số khung: RLCN5P1108Y011883, số máy; 5P11-011883 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Philops Xenium, bên trong có sim số 0349811917; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0968457436, 0865279733; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số [...].
Các bị cáo không tranh luận gì với phần luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo Đ không xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo C xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo phạm tội lần đầu do thiếu hiểu biết pháp luật, số tiền hưởng lợi bị cáo đã nộp lại toàn bộ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về tội danh và định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/5/2024, tại khu vực phường K, quận H, thành phố Hà Nội lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Nguyễn Minh Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave RSX, BKS 36F1-232.85 của anh Hoàng Quốc H1 trị giá 4.664.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe trên Đ đã bán cho người không quen biết được 2.000.000 đồng và sử dụng ăn tiêu hết. Ngày 11/5/2024, Đ chiếm đoạt của anh Phùng Quang D1 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave màu đen BKS 29T2-116.83, trị giá 19.065.000 đồng bán cho Nguyễn Viết C với giá 5.200.000 đồng. Nguyễn Viết C bán lại chiếc xe trên cho một người không quen biết với giá 5.800.000 đồng hưởng lợi 600.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc xe máy của 2 người bị hại có tổng trị giá 23.729.000đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của Nguyễn Viết C mặc dù biết xe máy Đ bán là xe do Đ trộm cắp nhưng vì hám lợi nên vẫn mua và bán lại cho người khác hưởng lợi nên đã phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo Nguyễn Viết C về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh Đ và bị cáo Nguyễn Viết C là là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Nhân thân bị cáo Nguyễn Minh Đ có 02 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Trộm cắp tài sản. Mặc dù đã được xóa án nhưng vẫn coi là có nhân thân xấu. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.Tại phiên tòa bị cáo không xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội 2 lần trở lên nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
-Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Viết C: không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Số tiền hưởng lợi bị cáo đã nộp lại tại cơ quan điều tra. Bố bị cáo là ông Nguyễn Quý D là bệnh binh được hưởng mức trợ cấp bệnh binh, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần thiết phải áp dụng tù có thời hạn mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo BKS 36B3-161.54, số khung RLCN5P1108Y011883, số máy 5P11-011883; 01 (một) chiếc điện thoại di động, màu đen, nhãn hiệu Philips Xenium, bên trong có sim số 0349811917; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0968457436, 0865279733; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0963081844 các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - 01 (một) cờ lê bằng kim loại kích thước 25cm; 01 (một) tua vít bằng kim loại cán bằng cao su kích thước 20cm; 01 (một) tay công bằng kim loại cán bằng cao su kích thước 15cm; 05 (năm) chùm chìa khóa các loại trong đó có nhiều loại chìa khóa xe máy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 4.020.000 đồng là tiền do Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Viết C tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả. Trong đó của bị cáo Đ là: 3.420.000đ cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án; số tiền 600.000₫ bị cáo C nộp là tiền thu lời bất chính nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Hoàng Quốc H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.664.000 đồng; anh Phùng Quang D1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 19.065.000 đồng là có căn cứ, nên buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải có trách nhiệm bồi thường trả cho anh Hoàng Quốc H1 số tiền 4.664.000 đồng và anh Phùng Quang D1 số tiền 19.065.000 đồng.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng Phạm Hồng H2, quá trình điều tra xác định: Chỉ có lời khai của bị can Nguyễn Minh Đ khai nhận đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với H2. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Đ nhận dạng Huấn, khai thác đoạn video thu thập được nhưng không rõ nét hình ảnh về đối tượng, đồng thời, nhiều lần triệu tập nhưng H2 vắng mặt ở địa phương. Cơ quan điều tra ra Quyết định truy tìm đối với Phạm Hồng H2 nhưng chưa truy tìm được đối tượng. Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, chưa đủ căn cứ vững chắc khởi tố bị can đối với H2 về tội trộm cắp tài sản. Ngày 14/8/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định số 5155/QĐ-ĐTTH tách hành vi và tài liệu liên quan đối với đối tượng Phạm Hồng H2 sinh năm 1987; HKTT: Tổ A, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với người đã hỏi mua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 36F1-232.85, số khung 068971, số máy 1151143 mà Nguyễn Minh Đ đã trộm cắp của anh Hoàng Quốc H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã rà soát và ra thông báo truy tìm vật chứng, nhưng đến nay chưa có kết quả. Nên không có căn cứ xem xét xử lý là phù hợp.
[8]Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Viết C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 45; 46; 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án;
1- Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Viết C phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2- Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Minh Đ 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/5/2024;
Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Viết C 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Viết C cho Ủy ban nhân dân phường K, quận T, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự
3.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải bồi thường cho anh Hoàng Quốc H1 số tiền 4.664.000 đồng và anh Phùng Quang D1 số tiền 19.065.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo BKS 36B3-161.54, số khung RLCN5P1108Y011883, số máy 5P11-011883; 01 (một) chiếc điện thoại di động, màu đen, nhãn hiệu Philips Xenium, bên trong có sim số 0349811917; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0968457436, 0865279733; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0963081844 .
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cờ lê bằng kim loại kích thước 25cm; 01 (một) tua vít bằng kim loại cán bằng cao su kích thước 20cm; 01 (một) tay công bằng kim loại cán bằng cao su kích thước 15cm; 05 (năm) chùm chìa khóa các loại trong đó có nhiều loại chìa khóa xe máy.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.
Tạm giữ số tiền: 3.420.000đ của Nguyễn Minh Đ để đảm bảo thi hành án; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 600.000đ của bị cáo Nguyễn Viết C. Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 16/9/2024 của Công an quận H vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông tại Kho bạc Nhà nước H3.
4. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Minh Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.186.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Viết C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5- Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tưởng Thị Huyền |
Bản án số 298/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 298/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Đ có hành vi trộm cắp tài sản tổng trị giá 23.729.000đ và Nguyễn Viết C có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
