|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 298/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21/8/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA- TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên - Phó Chủ tịch hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hoà.
Bà Nguyễn Thị Kim Yến - Phó Chủ tịch Ủy ban mặt trận tổ quốc thành phố BH.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:1736/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 319/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Gi, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Hẻm 2, tổ 25, khu phố 5A, phường TD, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Hẻm 2, tổ 25, khu phố 5A, phường TD, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
(Chị H, anh Gi có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Gi tự nguyện kết hôn với nhau năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LS, huyện AS, tỉnh NA, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, chồng cờ bạc, ghen tuông đánh đập vợ. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nên đã nhiều lần vợ chồng ngồi lại tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Hiện nay chị và anh Gi đã sống ly thân từ tháng 05 năm 2023 cho đến nay không quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi.
- - Về con chung: Chị H xác định có 01 con chung cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014. Hiện nay cháu Kh đang ở với chị. Ly hôn, chị xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kh. Tạm thời chị không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị không yêu cầu và cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác.
- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn Gi trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LS, huyện AS, tỉnh NA, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 vợ làm công ty đa cấp từ đó vợ chồng sinh ra mâu thuẫn do vợ thường xuyên đi sớm về trễ có nhiều lần đi qua đêm không về bỏ mặc chồng con đau ốm không quan tâm, không có trách nhiệm với chồng, vợ chồng có xô xát đánh nhau. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay. Nay Chị H xin ly hôn thì anh không đồng ý vì muốn hàn gắn đoàn tụ và còn tình cảm với vợ.
- - Về con chung: Anh Gi xác định có 01 con chung cháu Nguyễn Văn Kh sinh ngày 04/10/2014. Quá trình hòa giải anh đồng ý giao cháu Kh cho Chị H nuôi, tạm thời anh không cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, anh xin được nuôi cháu Kh và không yêu cầu Chị H cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh không có ý kiến gì và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH:
- + Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết, Tòa án đã xác định đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật.
- + Về việc giải quyết tranh chấp: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014 cho Chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh Gi không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết; Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định.
- [1] Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn còn anh Nguyễn Văn Gi là bị đơn.
- [2] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn Gi có hộ khẩu thường trú tại thành phố Biên Hoà và hiện nay đang cư trú tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
- [3] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn Gi có mặt tại phiên tòa căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án tiến hành xét xử theo quy định.
- [4] Về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, HĐXX xét thấy: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Gi tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LS, huyện AS, tỉnh NA. Được Ủy ban nhân dân xã LS, huyện AS, tỉnh NA cấp giấp kết hôn số 34/2014, quyển 02/2012, ngày 25/4/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, chồng cờ bạc, ghen tuông đánh đập vợ. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nên đã nhiều lần vợ chồng ngồi lại tìm các giải quyết nhưng không có kết quả. Hiện nay chị và anh Gi đã sống ly thân từ tháng 05 năm 2023 cho đến nay không quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Gi. Anh Gi cũng thừa nhận quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn và hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 5/2023 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xét yêu cầu ly hôn của Chị H là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Trong quá trình hai vợ chồng sống ly thân chị và anh Gi không có biện pháp gì để hàn gắn đoàn tụ. Theo Biên bản xác minh tại Công an phường TD, thành phố Biên Hoà ngày 25/7/2023 cung cấp như sau: “Anh Nguyễn Văn Gi có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Việc mâu thuẫn vợ chồng Chị H có báo Công an phường nhưng không yêu cầu nên Công an phường nhắc nhở và hướng dẫn Chị H làm đơn ra Tòa án để giải quyết ly hôn theo yêu cầu”. Như vậy, thể hiện việc mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng giữa Chị H, anh Gi là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn chung sống, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nữa. Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành hoà giải và tại phiên tòa Chị H vẫn cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với anh Gi nữa. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi.
- Về con chung: Chị H, anh Gi xác định có 01 con chung cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014. Ly hôn Chị H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kh và không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con. Quá trình hòa giải anh Gi đồng ý giao con cho Chị H nhưng tại phiên tòa anh Gi xin nuôi cháu Kh và không yêu cầu Chị H cấp dưỡng nuôi con.
Xét về điều kiện nuôi con: Căn cứ vào lời khai, xác nhận mức lương thì Chị H và anh Gi hiện nay đều làm việc tại thành phố Biên Hoà có công việc và mức lương ổn định. Như vậy, xét về điều kiện kinh tế thì Chị H và anh Gi tương đồng nhau nhưng hiện nay cháu Kh đang ở với Chị H và cháu có nguyện vọng ở với Chị H. Để không làm xáo trộn đời sống tâm sinh lý và việc học của cháu Kh nên giao cháu Kh cho Chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của Chị H giao cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014 cho Chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh Gi không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị H không yêu cầu.
Anh Gi được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- [5] Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và đương sự:
- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Xét yêu cầu của Chị H phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [6] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Ngyễn Văn Giáp không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Áp dụng Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014 cho Chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh Gi không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị H không yêu cầu.
Anh Gi được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Chị H đã nộp tại biên lai số 0008405 ngày 04/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BH. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn Gi không phải nộp án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn Gi được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nơi nhận:
|
Nguyễn Thị Quỳnh |
Bản án số 298/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA- TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 298/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA- TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi
