Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 298/2024/HS-ST

Ngày 03-12-2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Thanh Nhàn;

Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 11 và ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 288/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Ngô Văn T (tên gọi khác: T), sinh năm 1987 tại tỉnh Trà Vinh; địa chỉ thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở trước khi bị bắt: Nhà trọ T6 (phòng số 6), đường D, khu phố D, phường M, thị xã (này là thành phố) B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD: [...]; con ông Ngô Văn M, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Bí Thị C, sinh năm 1956; có vợ tên: Nguyễn Thị K, sinh năm 1989 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/4/2004, bị Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định số 1388/QĐ-UB về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G1 trong thời hạn 24 tháng về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong quyết định ngày 25/02/2006; ngày 02/02/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm tù về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 04/2007/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/12/2007; ngày 20/12/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành

phố) Bến Cát xử phạt 36 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 236/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/7/2013. Đối với phần đóng án phí và bồi thường dân sự, đóng tiền tại Trại giam T7 – Cục C2 và được Trại giam chuyển tiền đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Bến Cát vào ngày 30/11/2016; ngày 03/4/2023, bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã (nay là thành phố) Bến Cát cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lâm Trường A, sinh năm 1989 tại tỉnh Bạc Liêu; địa chỉ thường trú: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở trước khi bị bắt: Khu phố F, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế xe honda ôm; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD: [...]; con ông Lâm Văn T1, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962; có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; ngày 03/4/2023, đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã (nay là thành phố) Bến Cát cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Tấn S, sinh năm 1990 tại thành phố Cần Thơ; địa chỉ thường trú: Ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: Ấp C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD: [...]; con ông Nguyễn Tấn G, sinh năm 1972 và bà Đỗ Thị N, sinh năm 1972; có vợ tên Hồ Thị Minh T3, sinh năm 1989 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/5/2014, bị Công an huyện P, thành phố Cần Thơ ra Quyết định số 14 về việc xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 600.000 đồng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 27/5/2014, bị Ủy ban nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ ra Quyết định số 1871 về việc xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 10.000.000 đồng về hành vi: “Cất giấu công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”; ngày 06/01/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ ra Quyết định số 01 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong thời hạn ngày 18/3/2017; ngày 30/3/2024, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa ngày 29/11/2024 và vắng mặt ngày 03/12/2024.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1982; nơi thường trú: Tổ C, khu phố E phường C, thành phố B, Bình Dương. Có mặt ngày 29/11/2024 và vắng mặt ngày 03/12/2024.

2. Ông Nguyễn Tấn S, sinh năm 1990 tại thành phố Cần Thơ; hộ khẩu thường trú: Ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ; chỗ ở hiện tại: Ấp C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương. Có mặt ngày 29/11/2024 và vắng mặt ngày 03/12/2024.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Thị K, sinh năm 1989; thường trú tại: Ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Có mặt.

2. Bà Phan Thúy A1, sinh năm 1989; thường trú tại: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn T và Lâm Trường A là bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 18 giờ ngày 02/4/2023, T được người bạn tên T5 (không rõ nhân thân, lai lịch) chở đến quán bida không tên cạnh đường D- NF5 thuộc khu phố E, phường C, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương để T chơi đánh bida, còn T5 ra về. Lúc này, trong quán có Nguyễn Tấn S, Nguyễn Ngọc T4 và một số người khách khác.

T rủ T4 chơi bida thắng thua bằng tiền, T4 đồng ý. T và T4 thỏa thuận đánh bida mỗi ván 50 điểm, tỉ lệ thắng thua là 1:1, chung chi tiền sau khi kết thúc mỗi ván. Số tiền cá cược và kết quả thắng thua như sau:

  • - Ván thứ 1: Cá cược số tiền 500.000 đồng, kết quả Tân thua, T4 thắng.
  • - Ván thứ 2: Cá cược số tiền 1.000.000 đồng, kết quả Tân thua, T4 thắng.
  • - Ván thứ 3: Cá cược số tiền 2.000.000 đồng, kết quả Triệu thua, Tân thắng.
  • - Ván thứ 4: Cá cược số tiền 1.300.000 đồng, kết quả Tân thua, T4 thắng.

T4 khai đem theo 300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Sau khi thua T ván thứ 3 là 2.000.000 đồng, lúc này T4 chỉ có 1.800.000 đồng nên mượn của người bạn (không rõ nhân thân, lai lịch) đến quán uống nước thêm 200.000 đồng để chung cho T. T khai đem theo số tiền 6.800.000 đồng nhưng chỉ lấy ra số tiền cao nhất là 3.500.000 đồng để đánh bạc với T4 (sau khi thua ván thứ 2 và bắt đầu chơi ván thứ 3). Kết quả sau 04 ván, Tân thua Triệu số tiền 800.000 đồng thì T và T4 nghỉ không chơi nữa. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc cao nhất dựa theo kết quả thắng thua sau từng ván của T và T4 là 4.000.000 đồng.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi T và T4 nghỉ chơi thì Nguyễn Tấn S rủ Tân chơi bida cá cược thắng thua bằng tiền, T đồng ý. T và S thỏa thuận đánh bida mỗi ván từ 60 điểm đến 80 điểm (tùy theo số điểm mỗi ván S chấp T, có nghĩa nếu S chấp T 10 điểm thì T đánh được 60 điểm là thắng, còn S đánh được 70 điểm thì thắng), tỷ lệ thắng thua là 1:1, chung chi tiền sau khi kết thúc mỗi ván. Số tiền cá cược và kết quả thắng thua như sau:

  • - Ván thứ 1: Cá cược số tiền 1.000.000 đồng, S chấp T 15 điểm, kết quả Tân thua, S thắng.
  • - Ván thứ 2: Cá cược số tiền 1.500.000 đồng, S chấp T 15 điểm, kết quả Tân thua, S thắng.
  • - Ván thứ 3: Cá cược số tiền 2.000.000 đồng, S chấp T 10 điểm, kết quả Tân thua, S thắng.
  • - Ván thứ 4: Cá cược số tiền 1.500.000 đồng, S chấp T 15 điểm, kết quả Tân thắng, S thua.
  • - Ván thứ 5: Cá cược số tiền 1.500.000 đồng, S chấp T 15 điểm, kết quả Tân thắng, S thua.
  • - Ván thứ 6: Cá cược số tiền 1.500.000 đồng, S chấp T 10 điểm, kết quả Tân thua, S thắng.
  • - Ván thứ 7: Cá cược số tiền 1.500.000 đồng, S chấp T 15 điểm, kết quả Tân thua, S thắng.
  • - Ván thứ 8: Cá cược số tiền 1.500.000 đồng, S chấp T 15 điểm, kết quả Tân thua, S thắng.
  • - Ván thứ 9: Cá cược số tiền 1.500.000 đồng, S chấp T 15 điểm, kết quả Tân thắng, S thua.
  • - Ván thứ 10: Cá cược số tiền 2.000.000 đồng, S chấp T 15 điểm, kết quả Tân thắng, S thua.

T khai khi chơi đánh bida với T4 xong thì T sử dụng hết số tiền còn lại là 6.000.000 đồng để đánh bạc với S. S khai đem theo 2.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Kết quả sau 10 ván, Tân thua S số tiền 2.500.000 đồng thì T và S nghỉ không chơi nữa. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc cao nhất dựa theo kết quả thắng thua sau từng ván của T và S là 8.000.000 đồng.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, trong lúc T và S đang đánh bida, T gọi điện thoại cho vợ của T là Nguyễn Thị K điều khiển xe môtô hiệu Jupiter màu xanh, biển số 84C1-091.70 đến để chở T về. Khi Nguyễn Thị K đến quán thì dựng xe môtô phía trước quán cách chỗ bàn bida T đang chơi khoảng 04 mét, rồi K lại ngồi chỗ bàn để nước cách chỗ T khoảng 02 mét. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T gọi cho Lâm Trường A hỏi: “Đang ở đâu rồi”, A trả lời: “Đang uống cà phê”, T nói: “Chạy qua chỗ đánh bida gấp có chuyện”. Lúc này, A đang ở khu vực đường D, khu phố F, phường T, thị xã (nay là thành phố) B thì nhìn thấy người bạn tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đang đi bộ trên đường D nên A rủ N1 đi cùng để hỗ trợ cho T vì A hiểu được T gọi A đến để giúp sức do T đang gặp chuyện gì đó hay đang xảy ra đánh nhau. Khi A và N1 chuẩn bị đi thì T tiếp tục gọi cho A nói: “Mày đi chưa qua đây có chuyện gấp” nên A liền điều khiển xe môtô hiệu Wave, màu đỏ - đen - bạc, biển số 94K1-019.11 chở N1 đi đến quán B1. Khi đến nơi, A thấy T đang đánh bida với S nên A và N1 ngồi ở bàn uống nước cách chỗ bàn bida T đang đánh bida khoảng 03 mét xem.

Đối với T4 sau khi chơi đánh bida với T xong, T4 trả 200.000 đồng cho bạn và sử dụng 700.000 đồng để mua đồ dùng cá nhân, còn lại 400.000 đồng Triệu để trong túi quần trước bên trái rồi quay lại quán bida ngồi ở bàn uống nước cách chỗ bàn bida T và S đang đánh bida khoảng 02 mét.

Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi T và S đánh xong ván thứ 10 thì S thua nên bỏ số tiền thua là 2.000.000 đồng lên bàn bida bên cạnh bàn bida mà S và T đang chơi. S nói với T: “Giờ đánh đồng thì chơi, giờ tôi mệt rồi”, T nói: “Mày chơi dơ, chơi không đẹp”, rồi cả hai xảy ra tranh cãi, mâu thuẫn nhau. Lúc này, T đi lại chỗ dựng xe môtô biển số 84C1-091.70 lấy 01 chai nước hình chữ nhật (T khai là chai nước hoa của K nhưng T sử dụng làm hung khí dọa S để S lầm tưởng là bình xịt hơi cay) trên giỏ phía trước xe, rồi đi lại bàn uống nước nơi A, N1 đang ngồi lấy 01 cây súng (T khai là súng nhựa nhưng T sử dụng làm hung khí để dọa S lầm tưởng là súng thật) bên trong 01 túi đeo chéo màu nâu trên bàn. Sau đó, T nháy mắt với A và N1, rồi cầm súng và chai nước hoa đi lại chỗ S đang đứng gần bàn bida và nói: “Bỏ hết tiền lên bàn đứa nào chạy tao bắn chết mẹ”, A và N1 cũng đi lại đứng gần chỗ S. Sang lo sợ bị đánh vì nhìn thấy T cầm hung khí và nhóm T đông người nên S lấy số tiền 2.500.000 đồng do chơi bida thắng T ở trong túi quần trước bên phải ra bỏ lên bàn bida. T nói với S: “Mày chơi dơ, chơi không đẹp”, rồi cầm chai nước hình chữ nhật xịt vào mặt S, S thấy nóng rát mặt và cay mắt nên liền bỏ chạy ra bên ngoài quán bida, T đuổi theo S nhưng không kịp. Lúc bỏ chạy, S để lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung A53S, màu đen ở trên bàn bida, cạnh bàn bida T và S chơi, nhưng sau khi bỏ chạy thoát, S không dám quay lại lấy.

Sau đó, T, A và N1 tiếp tục quay sang đánh T4. T cầm cây súng đánh vào vùng đầu T4 gây chảy máu, còn A và N1 dùng chân tay đánh nhiều cái vào người T4 và giữ vai của Triệu đè sấp mặt xuống bàn bida. Lúc này, ông Nguyễn Thanh B là chủ quán định lại can ngăn thì A nói: “Mày tránh ra, không tao đánh chết mẹ mày” nên ông B không dám lại gần. T chĩa súng vào đầu T4 nói: “Đánh nó, lục xét đồ nó có gì lấy hết”, A và N1 đứng hai bên người Triệu lục soát lấy số tiền 400.000 đồng trong túi quần của T4 (cụ thể ai là người lấy được tiền thì T4 không biết).

Sau đó, T chỉ tay vào mặt T4 nói: “Ngày mai tao qua tìm bọn mày tiếp”, rồi nói: “Thôi rút để công an đến”. A và N1 bỏ T4 ra, rồi A đi lại lấy điện thoại hiệu Samsung A53S của S bỏ vào túi quần, rồi cùng T, N1, K đi về. Khi về đến phòng trọ của T, phòng số 6, nhà trọ T6 cạnh đường D thuộc khu phố D, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương thì A đưa điện thoại của S cho T cất giữ. Sau đó, A đi về phòng trọ ở khu phố F, phường T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.

Khoảng 01 giờ ngày 03/4/2023, S quay lại quán bida để lấy điện thoại thì được ông B cho biết nhóm T đã lấy điện thoại của mình nên sáng cùng ngày, S và T4 đến Công an phường C trình báo sự việc. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, Lâm Trường A đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra C3 (nay là thành phố) Bến Cát đầu thú và khai nhận thực hiện hành vi phạm tội cùng Ngô Văn T. Cùng ngày 03/4/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiến hành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với T. Tiếp tục khám xét khẩn cấp phòng trọ của Ngô Văn T và Lâm

Trường A, lực lượng Cơ quan Cảnh sát Điều tra C3 (nay là thành phố) Bến Cát phát hiện thu giữ:

  • - Thu giữ của Ngô Văn T: 01 (một) cây súng bằng nhựa màu vàng, đỏ, đen; 01 (một) chai nước hoa hình chử nhật có chữ LACONIC; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A53S, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu đen; 01 (một) xe môtô hiệu Jupiter màu xanh, biển số 84C1-091.70, số khung RLCJ5VT104Y046706, số máy 5VT146076.
  • - Thu giữ của Lâm Trường A: 01 (một) túi đeo màu nâu đen; 01 (một) xe môtô hiệu Wave, biển số 94K1-019.11; 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel, màu đen.

Theo Kết luận định giá số 52 ngày 26/4/2013 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã (nay là thành phố) B, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A53S trị giá 4.950.000 đồng (bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Theo Kết luận giám định số 726 ngày 20/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B, kết luận: Nguyễn Ngọc T4 có 01 (một) vết thương đầu vùng đỉnh chẩm 2,3 x 0,3cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc T4 tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm).

Quá trình điều tra, lời khai của Ngô Văn T, Lâm Trường A mâu thuẫn với Nguyễn Tấn S, Nguyễn Ngọc T4 và Nguyễn Thanh B, cụ thể:

  • - Ngô Văn T khai: Ngô Văn T gọi Lâm Trường A qua để hỗ trợ nếu có xảy ra đánh nhau và gọi Nguyễn Thị Kiều Q để chở T về, chứ K không tham gia thực hiện hành vi phạm tội cùng T. Sau khi T và S xảy ra mâu thuẫn thì T lấy chai nước hoa xịt vào mặt S thì S sợ bỏ chạy. Sau đó, T dùng cây súng nhựa do A đem tới (súng để trong túi màu nâu) đánh vào đầu T4 và nói A, Nam: “Lục soát người nó, có gì lấy đó”, A và N1 trực tiếp lục soát người Triệu lấy tiền. T chỉ lấy số tiền 2.000.000 đồng do S chung sau khi thua ván thứ 10. Đối với 2.500.000 đồng của S và 400.000 đồng của T4, T không rõ ai lấy, còn điện thoại của S do A lấy. Cây súng nhựa là T mua cho con Tân chơi (T không giải thích được tại sao lại có trong túi màu nâu A đem đến).
  • - Lâm Trường A khai: Cây súng là do T lấy trong bịch nylon màu đen để trên bàn nước chỗ Kiều ngồi, A không đem tới. A thấy T nháy mắt với A thì A hiểu là T kêu A hỗ trợ cho T. Sau đó, T dùng tay phải cầm súng và giơ lên nói: “Thằng nào chạy tao bắn chết mẹ tụi mày, tụi mày đứng đó móc tiền ra trả cho tao, móc đủ bảy triệu tư trả cho tao thì tụi mày mới được về, thằng nào chạy tao bắn”. Lúc này, S ném cây cơ về phía T rồi bỏ chạy ra ngoài đường, T và N1 có đuổi theo S nhưng không kịp. Sau đó, T, A và N1 đi đến chỗ T4 đứng gần bàn bida, T nói A: “Mày lại giữ thằng này cho tao” nên A dùng tay đánh vào đầu T4, giữ tay, đè đầu Triệu cuối xuống bàn bida. T tiếp tục cầm súng đánh vào đầu, vai T4, rồi nói: “Tụi mày lục soát người nó cho tao, có gì lấy đó”. Sau đó, A giữ người Triệu, còn N1 và T dùng tay lục soát người Triệu lấy tiền. A nhìn thấy Tân móc được tiền ở túi quần phía trước bên trái của T4 ra nhưng không rõ bao nhiêu tiền, rồi T ném số tiền lấy của

T4 vào chung số tiền mà S đã chung cá cược ván cuối ở bàn bida kế bên. Lúc này, K đi lại lấy hết tiền trên bàn bida, còn A đi lại lấy điện thoại của S, rồi cả nhóm T bỏ ra về.

  • - Nguyễn Tấn S khai: Sau khi cá cược đánh bida với T thì xảy ra mâu thuẫn, thấy nhóm T đông người và sử dụng bình xịt hơi cay nên S lo sợ bị đánh đã lấy 2.500.000 đồng đã thắng của T ném lên bàn bida rồi bỏ chạy, lúc này điện thoại của S vẫn để lại trên bàn bida nên bị nhóm T chiếm đoạt. S không thấy K nói hay hành động gì. Khi bỏ chạy, S biết có để quên điện thoại di động ở trên bàn bida nhưng không dám quay lại lấy.
  • - Nguyễn Ngọc T4 khai: Triệu thấy T lấy cây súng từ túi màu nâu đen, T cầm súng đánh trên đầu T4, còn A và N1 sử dụng chân tay đánh nhiều cái vào người T4 và giữ người Triệu lại. Sau đó, T chĩa súng vào đầu T4 nói: “Đánh nó, lục xét đồ nó có gì lấy hết”, A và N1 lục soát người Triệu lấy 400.000 đồng trong túi quần, còn cụ thể N1 hay A lấy tiền thì T4 không biết. Sau đó, T nói: “Lục xét, coi vòng vòng có gì lấy nấy” thì T4 thấy A lấy điện thoại của S, rồi nhóm T bỏ đi. Không thấy K nói hay hành động gì. Triệu không yêu cầu xử lý hành vi cố ý gây thương tích và không có yêu cầu gì khác.
  • - Ông Nguyễn Thanh B khai: Khi sự việc xảy ra, ông B đứng nơi quầy tính tiền cách bàn bida khoảng 15 mét. Ông B nhìn thấy A và N1 đứng kè hai bên S, T cầm 01 khẩu súng và 01 vật gì nhìn không rõ chĩa vào người S. S móc tiền trong túi quần ra bỏ lên bàn bida, T lấy tiền này cất đâu không nhìn rõ. Sau đó, S bỏ chạy thoát, T đuổi theo nhưng không kịp. A và N1 giữ tay, đè người Triệu cuối mặt xuống bàn bida, T cầm cây súng đánh trên đầu T4 chảy máu. Bình định lại can ngăn thì A nói: “Mày tránh ra, không tao đánh chết mẹ mày”, B lo sợ nên không dám lại gần. B nghe T nói: “Xét người nó cho tao” thì N1 vẫn giữ người Triệu, còn A lục soát người Triệu nhưng ông B không nhìn rõ là A có lấy được gì không, rồi A đi lại lấy điện thoại của S để ở bàn bida và cả nhóm bỏ về. Ông B không nhìn thấy T lấy súng từ đâu, không thấy K nói hay hành động gì.
  • - Bà Nguyễn Thị K khai: Bà K đến quán bida để chở T về thì thấy T đang chơi đánh bida nên ngồi xem, không biết Tân chơi cá cược bằng tiền. Sau đó, hai bên xảy ra mâu thuẫn đánh nhau, Kiều sợ nên bỏ ra phía trước quán đứng. Sau đó, T chở K ra về. Kiều không tham gia thực hiện hành vi cùng nhóm T và không nhìn thấy nhóm T lấy tiền của ai

Đối với xe môtô biển số 94K1-019.11: Xe này do bà Phan Thúy A1 (sinh năm 1989, nơi thường trú: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2020, Bà Phan Thúy Al và Lâm Trường A ly hôn. Lúc này bà Phan Thúy Al cho xe môtô này cho Lâm Trường A quản lý, sử dụng, định đoạt nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Do đó, bà Phan Thúy A1 không có yêu cầu gì hay ý kiến gì đối với chiếc xe này trong vụ án này.

Đối với xe môtô biển số 84C1-091.70: Xe do ông Châu Văn C1 (sinh năm 1972, nơi thường trú: 10B, ấp L, Phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh) đứng tên đăng ký. Tuy nhiên qua xác minh thì không có ai tên là Châu Văn C1 ở địa chỉ này. Ngô Văn T khai xe do bà Nguyễn Thị Kiều M1 lại của người khác không rõ lai

lịch khoảng năm 2022, không có làm thủ tục sang tên. Xe này mua trong thời kỳ hôn nhân của Ngô Văn T và Nguyễn Thị Kiều . Cả hai đều sử dụng xe máy này.

Ngày 23/5/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã C3 xử lý vật chứng giao trả 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A53S, màu đen cho Nguyễn Tấn S.

Tại bản Cáo trạng số 289/CT-VKSBC ngày 17/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Lâm Trường A về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Nguyễn Tấn S về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 289/CT-VKSBC ngày 17/10/2024 đối với bị cáo bị cáo Ngô Văn T về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Lâm Trường A về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Nguyễn Tấn S về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Ngô Văn T: Xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù đối với tội: “Cướp tài sản” và từ 08 tháng đến 10 tháng tù tội: “Đánh bạc”.
  • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lâm Trường A: Xử phạt bị cáo Lâm Trường A từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Tấn S: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn S từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
  • - Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe môtô hiệu Wave, biển số 94K1-019.11, số máy: HC12E2894744, không kiểm tra được số khung (xe không gương bên phải, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) xe môtô hiệu Jupiter, biển số 84C1-091.70, số máy 5VT1-46076, không kiểm tra được số khung (xe không gương, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu đen (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel, màu đen (không

kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được). Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây súng bằng nhựa màu vàng, đỏ, đen (súng đồ chơi); 01 (một) túi đeo màu nâu đen; 01 (một) chai nước hoa hình chữ nhật có chữ LACONIC.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, nội dung bản Cáo trạng số 289/CT-VKSBC ngày 17/10/2024.

Tại phiên tòa, các bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và phần luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C3, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo Ngô Văn T, Lâm Trường A và Nguyễn Tấn S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 02/4/2023, Ngô Văn T đến quán B1 không tên cạnh đường D- NF5 thuộc khu phố E, phường C, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương rủ Nguyễn Ngọc T4 chơi bida thắng thua bằng tiền. Ngô Văn T sử dụng số tiền 3.500.000 đồng để chơi và Nguyễn Ngọc T4 sử dụng số tiền 300.000 đồng để chơi. Hai bên chơi tổng cộng 04 (bốn) ván, với số tiền cá cược mỗi ván từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng, kết quả T thua Triệu số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) thì Ngô Văn T và Nguyễn Ngọc T4 nghỉ không chơi nữa. Tổng số tiền đánh bạc cao nhất dựa theo kết quả thắng thua sau từng ván của T và T4 là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

Khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Tấn S rủ Ngô Văn Tân T chơi bida thắng thua bằng tiền. Ngô Văn T sử dụng số tiền 6.000.000 đồng để chơi và Nguyễn Tấn S sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để chơi. Hai bên chơi tổng cộng 10 (mười) ván với số tiền cá cược mỗi ván từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Kết quả sau 10 ván, Tân thua S2 tổng số tiền 2.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền dùng để đánh bạc cao nhất dựa theo kết quả thắng thua sau từng ván của T và S là 8.000.000 đồng.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, trong lúc đang chơi đánh bạc với S, T gọi cho Lâm Trường A và đối tượng tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đến quán. Khoảng 23 giờ 30 phút, sau khi chơi xong ván thứ 10, Nguyễn Tấn S thua Ngô Văn T số tiền 2.000.000 đồng nên S chung tiền cho T để lên bàn bida và đề nghị nghỉ chơi nhưng Ngô Văn T không đồng ý nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. Lúc này, Ngô Văn T, Lâm Trường A và đối tượng tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi sử dụng 01 (một) chai nước hoa và 01 (một) cây súng bằng nhựa làm hung khí đánh, đe dọa Nguyễn Tấn S và Nguyễn Ngọc Triệu .1 Nguyễn Ngọc T4 và Nguyễn Tấn S nghĩ Ngô Văn T sử dụng bình xịt hơi cay và cây súng quân dụng để tấn công họ nên Nguyễn Tấn S sau khi bị Ngô Văn T sử dụng 01 (một) chai nước hoa xịt vào mặt thì bỏ chạy để lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A53S để trên bàn bida gần đó. Sau đó, Ngô Văn T dùng cây súng bằng nhựa và Lâm Trường A, đối tượng tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) dùng chân tay đánh Nguyễn Ngọc T4 gây thương tích 01%, rồi lục soát lấy số tiền 400.000 đồng trong túi quần của T4. Sau khi bỏ người Triệu ra, Lâm Trường A lấy điện thoại di động hiệu Samsung A53S trị giá 4.950.000 đồng của Nguyễn Tấn S để trên bàn bida khi bỏ chạy, rồi Ngô Văn T cùng Lâm Trường A và đối tượng tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) bỏ đi.

Ngô Văn T và Lâm Trường A đã có hành vi sử dụng hung khí (phương tiện nguy hiểm), sử dụng tay đánh, đe dọa Nguyễn Ngọc T4 và Nguyễn Tấn S chiếm đoạt số tiền 400.000 đồng của Nguyễn Ngọc T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngô Văn T và Nguyễn Tấn S đã có hành vi đánh bạc với hình thức đánh bida với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bản Cáo trạng số 289/CT-VKSBC ngày 17/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo Ngô Văn T và Lâm Trường A là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bản thân các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân từ nguồn thu nhập hợp pháp nhưng vì tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền sử dụng cho mục đích cá nhân. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.

Hành vi của các bị cáo Ngô Văn T và Nguyễn Tấn S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, tác động xấu đến nếp sống văn minh trong xã hội. Về nhận thức, các bị cáo biết rõ pháp luật nước ta nghiêm cấm mọi hoạt động đánh bạc, tổ chức đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức lỗi cố ý, nhằm thu lợi bất chính.

Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Ngô Văn T, Lâm Trường A, Nguyễn Tấn S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Tấn S còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 do bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo Lâm Trường A còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 do bị cáo Lâm Trường A đầu thú.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Xét tính chất và mức độ phạm tội: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Về tội: “Cướp tài sản”: Bị cáo Ngô Văn T là người rủ bị cáo Lâm Trường A phạm tội và sử dụng các phương tiện nguy hiểm tấn công các bị hại. Bị cáo A tích cực tham gia với bị cáo Ngô Văn T. Do đó, mức án của bị cáo Ngô Văn T phải cao hơn bị cáo Lâm Trường A. Đối với tội: “Đánh bạc”: Bị cáo S rủ bị cáo T đánh bạc theo hình thức đánh bida. Bị cáo T sử dụng số tiền cao hơn bị cáo S và trước đó bị cáo T đã đánh bida ăn tiền với bị hại Nguyễn Ngọc Triệu .1 Hai bị cáo đều tích cực tham gia đánh bạc. Do đó, mức án của bị cáo T cũng phải cao hơn bị cáo S.

Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Ngày 23/5/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra C3 (nay là thành phố) Bến Cát xử lý vật chứng giao trả 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A53S, màu đen cho Nguyễn Tấn S. Nguyễn Tấn S đã nhận lại điện thoại và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.

Đối với xe môtô biển số 94K1-019.11: Xe này do bà Phan Thúy A1 đứng tên chủ sở hữu. Năm 2020, Bà Phan Thúy Al và bị cáo Lâm Trường A ly hôn. Lúc này bà Phan Thúy A1 tặng cho xe môtô này cho bị cáo Lâm Trường A quản lý, sử dụng, định đoạt nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Do đó, bà Phan Thúy A1 không có yêu cầu gì hay ý kiến gì đối với chiếc xe này trong vụ án này. Bị cáo Lâm Trường A sử dụng xe này để đi thực hiện hành vi phạm tội với bị cáo T. Do đó, đây là công cụ, phương tiện sử dụng phạm tội. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với xe môtô biển số 84C1-091.70: Xe do ông Châu Văn C1 (sinh năm 1972, nơi thường trú: 10B, ấp L, Phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh) đứng tên đăng ký. Tuy nhiên qua xác minh thì không có ai tên là Châu Văn C1 ở địa chỉ này. Ngô Văn T khai xe do bà Nguyễn Thị Kiều M1 lại của người khác không rõ lai lịch khoảng năm 2022, không có làm thủ tục sang tên. Xe này mua trong thời kỳ hôn nhân của Ngô Văn T và Nguyễn Thị Kiều . Cả hai đều sử dụng xe máy này. Bị cáo T sử dụng xe này để đi thực hiện hành vi phạm tội và bà K biết việc này. Tại phiên tòa bà K cũng không có yêu cầu nhận lại xe này. Do đây là công cụ, phương tiện sử dụng phạm tội. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) cây súng bằng nhựa màu vàng, đỏ, đen; 01 (một) túi đeo màu nâu đen; 01 (một) chai nước hoa hình chữ nhật có chữ LACONIC: Đây là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel, màu đen: Bị cáo T và bị cáo A xác định sử dụng hai điện thoại này để T liên hệ yêu cầu A đến hỗ trợ A thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 400.000 đồng của bị hại Nguyễn Ngọc T4: Ông T4 không xác định được bị cáo nào là người lấy số tiền của ông T4. Ông T4 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền này cho ông T4. Do đó, không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Đối với Nguyễn Ngọc T4 có hành vi đánh bạc nhưng số tiền sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C3 không truy cứu trách nhiệm hình sự mà xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

[6] Đối với Ngô Văn T và Lâm Trường A có hành vi cố ý gây thương tích cho ông Nguyễn Ngọc T4 với tỷ lệ thương tật là 01% và ông T4 không có yêu cầu khởi tố vụ án nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C3 không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T và A về tội: “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.

[7] Đối với bà Nguyễn Thị K: Căn cứ theo lời khai của các bị cáo, các bị hại, người làm chứng thì không có căn cứ xác định việc bà K biết và có tham gia vào việc cướp tài sản với Ngô Văn T. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C3 không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà Nguyễn Thị K là có căn cứ.

[8] Đối với số tiền 2.500.000 đồng thắng được của bị cáo Ngô Văn T mà bị hại Nguyễn Tấn S khai bỏ lại bàn bida khi bị bị cáo Ngô Văn T tấn công: Nhận thấy có sự mâu thuẫn về lời khai của các bị cáo đối với số tiền này. Bị hại S xác định bỏ lại số tiền này trên bàn bida trước khi bỏ chạy. Bị cáo T, bị cáo A khai không biết, không thấy số tiền này. Bà K và người làm chứng khai không biết về số tiền này. Do đó, không có căn cứ xác định các bị cáo có chiếm đoạt số tiền này của bị hại S. Đồng thời, bị hại Nguyễn Tấn S cũng xác định không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền này, không yêu cầu giải quyết đối với số tiền này. Vì vậy, không có xem xét đối với số tiền 2.500.000 đồng trong vụ án này.

[9] Đối với hành vi bị cáo A lấy điện thoại di động hiệu Samsung A53S của bị hại Nguyễn Tấn S: Căn cứ hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ đến vụ án tại phiên tòa có căn cứ xác định bị cáo A không có mục đích chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Samsung A53S của bị hại S. Bị cáo A do nhầm lẫn là điện thoại của bị cáo T nên khi bị cáo Tân bỏ về trước thì bị cáo A cầm điện thoại để đưa cho bị cáo T. Bị cáo T khi biết được bị cáo A cầm nhầm đã liên hệ để trả lại điện thoại này. Do đó, không có căn cứ xác định các bị cáo có mục đích dùng vũ lực để chiếm đoạt đối với điện thoại di động hiệu Samsung A53S này.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội: “Cướp tài sản” và “Đánh bạc”.

- Tuyên bố bị cáo Lâm Trường A phạm tội: “Cướp tài sản”.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn S phạm tội: “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1 Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Ngô Văn T.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cướp tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội: “Đánh bạc”.

Tổng hợp hình phạt bị cáo Ngô Văn T phải chấp hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2023.

2.2 Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lâm Trường A.

Xử phạt bị cáo Lâm Trường A 07 (bảy) năm tù về tội: “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2023.

2.3 Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Tấn S.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn S 08 (tám) tháng tù về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt thi hành án.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ theo Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe môtô hiệu Wave, biển số 94K1-019.11, số máy: HC12E2894744, không kiểm tra được số khung (xe không gương bên phải, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) xe môtô hiệu Jupiter, biển số 84C1-091.70, số máy 5VT1-46076, không kiểm tra được số khung (xe không gương, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu đen (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel, màu đen (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây súng bằng nhựa màu vàng, đỏ, đen (súng đồ chơi); 01 (một) túi đeo màu nâu đen; 01 (một) chai nước hoa hình chữ nhật có chữ LACONIC.

(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thành phố C3 và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát)

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Văn T, Lâm Trường A và Nguyễn Tấn S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 298/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội cướp tài sản và đánh bạc

  • Số bản án: 298/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp tài sản và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Cướp tài sản” và “Đánh bạc”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger