TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 298/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2024
V/v Tranh chấp xác định cha cho con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích
Ông Nguyễn Đức Kha
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/6/2024 về “Tranh chấp về xác định cha cho con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐ-ST ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 179/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang - Bị đơn: Anh Đỗ Hồng Q, sinh năm 1982 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn M, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Nơi cư trú cuối cùng của anh T1 tại Việt Nam: thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Anh T1 hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai chị Nguyễn Thị T trình bày:
Trước đây, chị là vợ của anh Phạm Văn T1, nhưng do vợ chồng mâu thuẫn nên đã ly thân với nhau từ lâu. Trong thời gian ly thân và làm thủ tục ly hôn với anh Thế T2 chị có tìm hiểu và chung sống cùng anh Đỗ Hồng Q, sinh năm 1982. Quá trình chung sống với nhau, chị và anh Q có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020. Thời điểm chị sinh con ngày 10/10/2020 thì do chị vẫn đang tồn tại quan hệ hôn nhân với anh Phạm Văn T1 nhưng anh T1 ở nước ngoài nên con chung của chị và anh Q không phải là con đẻ của anh T1. Đến nay giữa chị và anh T1 đã ly hôn.
Cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) là con đẻ của anh Đỗ Hồng Q theo Kết quả xét nghiệm AND ngày 27/5/2024 của Công ty TNHH T4. Tuy nhiên hiện nay chị vẫn chưa làm giấy khai sinh cho cháu vì chưa ghi tên bố vào Giấy khai sinh được.
Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu bé do chị sinh ngày 10/10/2020, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang:
- - Xác định anh Đỗ Hồng Q, sinh ngày 23/02/1982, căn cước công dân số: [...] là cha đẻ của cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020.
- - Xác định anh Phạm Văn T1, sinh ngày 02/10/1985 không phải là cha đẻ của cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020.
* Anh Đỗ Hồng Q trình bày: Từ năm 2019 đến nay, anh và chị Nguyễn Thị T có chung sống với nhau. Quá trình chung sống với nhau, anh và chị T có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020. Thời điểm chị T sinh con ngày 10/10/2020 thì vẫn đang tồn tại quan hệ hôn nhân với anh Phạm Văn T1 nhưng anh T1 ở nước ngoài nên cháu không phải là con đẻ của anh T1. Đến nay giữa chị T và anh T1 đã ly hôn. Cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020 là con đẻ của anh theo Kết quả xét nghiệm AND ngày 27/5/2024 của Công ty TNHH T4. Nay anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn T1 hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh T1 đến nay không nhận được thông tin của anh T1.
Tại Biên bản làm việc ngày 08/01/2024 và 18/01/2024 trong vụ án tranh chấp ly hôn giữa chị chị T và anh T1, bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1961 là mẹ đẻ anh Phạm Văn T1 cung cấp anh T1 hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, anh T1 vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng gia đình bà không biết địa chỉ của anh T1 ở Đài Loan.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T và anh Q có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiến. Anh T1 vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102, khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
Xác định anh Đỗ Hồng Q, sinh ngày 23/02/1982, căn cước công dân số: [...] là cha đẻ của cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020.
Xác định anh Phạm Văn T1, sinh ngày 02/10/1985 không phải là cha đẻ của cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T được miễn án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết xác định cha cho con đối với anh Đỗ Hồng Q và anh Phạm Văn T1. Anh Q có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang; anh T1 hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 16581/QLXNC-P3 ngày 25/7/2024 của Cục Q1 - Bộ C thì anh Phạm Văn T1 đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 15/7/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp xác định cha cho con” theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do anh Phạm Văn T1 được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị T và anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Bà Nguyễn Thị T3 là mẹ đẻ anh Phạm Văn T1 cung cấp anh T1 hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, gia đình bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh T1 nhưng không biết địa chỉ cụ thể của anh T1 tại Đài Loan. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh T1 theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T:
Chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ Hồng Q đều xác định cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020 là con đẻ của anh Đỗ Hồng Q.
Thời điểm chị T sinh cháu thì vẫn đang tồn tại quan hệ hôn nhân với anh Phạm Văn T1. Tuy nhiên, tại Kết quả xét nghiệm AND ngày 27/5/2024 của Công ty TNHH T4 kết luận: Anh Đỗ Hồng Q và cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020 có quan hệ huyết thống bố - con. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T về việc xác định cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) không phải là con đẻ của anh Phạm Văn T1; xác định cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) là con đẻ của anh Đỗ Hồng Q.
[4]. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị T được miễn án phí sơ thẩm.
[5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102, khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- Xác định anh Đỗ Hồng Q, sinh ngày 23/02/1982, căn cước công dân số: [...] là cha đẻ của cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020.
- Xác định anh Phạm Văn T1, sinh ngày 02/10/1985 không phải là cha đẻ của cháu Nguyễn Đỗ Bảo Y, sinh ngày 10/10/2020 (tên dự kiến đặt) do chị Nguyễn Thị T sinh theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 39 của Bệnh viện S cấp ngày 12/10/2020.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T được miễn án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- - Anh Phạm Văn T1 hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Chị Nguyễn Thị T và anh Đỗ Hồng Q cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 298/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp xác định cha cho con
- Số bản án: 298/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xác định cha con
