Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 298/2023/HS-ST

Ngày 20-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Sơn Tây;

Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 310/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Đào Sơn B, sinh năm 1985 tại Đồng Nai; HKTT: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ tạm trú: khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Sơn N và bà Nguyễn Thị Thanh Đ; có vợ tên Nguyễn Thị Bé D; có hai con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 07/12/2015, bị Cơ quan cảnh sát điều tra – C (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương khởi tố về tội Đánh bạc. Đến ngày 04/5/2016 được Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) T) tỉnh Bình Dương đình chỉ bị can do thay đổi chính sách hình sự. Ngày 18/5/2016, bị C (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số 37 về hành vi Đánh bạc xử phạt số tiền 2.000.000 đồng (đã nộp phạt xong ngày 25/5/2016); bị cáo tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1981; địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án văng mặt.
  2. Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1978; địa chỉ: khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án văng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 12/2020, Nguyễn Minh H nhiều lần vay tiền của Huỳnh Thanh T với tổng số tiền vay là 175.000.000 đồng, mục đích sử dụng cá nhân với lãi suất 03 (Ba)%/tháng.

Đến tháng 11/2021, để có tiền trả cho T và thông qua T, H quen biết Đào Sơn B, H liên hệ trực tiếp B hỏi vay số tiền 175.000.000 đồng. B đồng ý. Hai bên lập giấy vay tiền và có thỏa thuận lãi suất 10%/tháng (120%/năm). Trong thời gian vay tiền của B, H đã thanh toán tiền lãi được 06 tháng (Gồm tháng 12/2021, 01/2022, 3/2022, 4/2022, 5/2022, 6/2022) với tổng tiền lãi là 104.500.000 đồng (Tiền lãi mỗi tháng là 17.500.000 đồng, trong đó, H chưa trả tiền lãi tháng 02/2022, tiền lãi tháng 6/2022 chỉ trả 17.000.000 đồng). H trả tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản 1420111109004 Ngân hàng Q do H đứng tên chuyển đến số tài khoản 65110002753086 Ngân hàng Đ1 do B đứng tên. Đến tháng 7/2022, do không còn khả năng chi trả nên H gặp B xin không trả lãi như thỏa thuận nhưng B không đồng ý. B nhiều lần gặp H để đòi tiền gốc và lãi nhưng H không có khả năng chi trả và đã trình báo Công an phường T về hành vi cho vay lãi nặng của B.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ: Một giấy mượn tiền ngày 08/11/2021 và tài liệu sao kê tài khoản Ngân hàng Đầu tư và Phát triển của Đào Sơn B. B khai nhận đã cho H vay số tiền 175.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (120%/năm) và thu lợi bất chính là 87.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 319/CT-VKSTU ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đào Sơn B về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

  • + Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Sơn B từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.
  • + Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo Đào Sơn B nộp lại số tiền 175.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Đào Sơn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo Đào Sơn B xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Huỳnh Thanh T và ông Nguyễn Minh H có đơn xin vắng mặt. Quá trình điều tra, lời khai của ông T, ông H không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên. Xét thấy, việc vắng mặt của ông H, ông T không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông H, ông T.

- Về tình tiết vụ án:

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Đào Sơn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ là giấy vay tiền và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 08/11/2021, bị cáo B cho H vay số tiền 175.000.000 đồng. Từ tháng 12/2021 đến tháng 6/2022 H đã trả cho bị cáo B số tiền lãi là 104.500.000 đồng (Tiền lãi mỗi tháng là 17.500.000 đồng, trong đó, H chưa trả tiền lãi tháng 02/2022 và tiền lãi tháng 6/2022 chỉ trả 17.000.000 đồng), lãi suất 10%/tháng tương đương lãi suất 120%/năm, cao gấp 6 lần lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự quy định. Số tiền B thu lợi bất chính là 87.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo B đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Đào Sơn B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo phạm tội với mục đích thu lợi bất chính, bất chấp chế tài nghiêm khắc của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, gây rối loạn các giao dịch dân sự lành mạnh mà còn mang tính chất bóc lột, làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây ra nhiều hệ lụy xấu cho xã hội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về nhân thân: Ngày 18/5/2016, bị C (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số 37 về hành vi Đánh bạc xử phạt số tiền 2.000.000 đồng (đã nộp phạt xong ngày 25/5/2016)

[7] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Xét thấy, bị cáo cho người khác vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính và nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - Đối với số tiền lãi tính lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự mà bị cáo Đào Sơn B đã nhận từ người vay là 17.500.000 đồng là tiền lãi phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền lãi tính lãi suất trên 20%/năm mà bị cáo thu lợi bất chính là 87.000.000 đồng là số tiền chiếm đoạt trái pháp luật nên cần buộc bị cáo trả lại cho ông H.
  • - Bị cáo cho ông H vay số tiền 175.000.000 đồng. Ông H đã trả cho bị cáo số tiền 70.500.000 đồng, còn nợ lại số tiền 104.500.000 đồng. Đây là số tiền bị cáo B sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo nộp lại 70.500.000 đồng để tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước và buộc ông H phải nộp lại số tiền 104.500.000 đồng để tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.

[9] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Đào Sơn B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

    • - Xử phạt bị cáo Đào Sơn B 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ; Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nhận được bản án và quyết định thi hành án

    Giao các bị cáo Đào Sơn B cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Trường hợp bị cáo Đào Sơn B thay đi khỏi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

    Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Đào Sơn B số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.

  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

    Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • - Buộc bị cáo Đào Sơn B phải nộp lại số tiền 88.000.000 (Tám mươi tám triệu) đồng để tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
    • - Buộc ông Nguyễn Minh H phải nộp lại số tiền 104.500.000 (Một trăm lẻ bốn triệu, năm trăm nghìn) đồng để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
    • - Buộc bị cáo Đào Sơn B có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Minh H số tiền 87.000.000 (Tám mươi bảy triệu) đồng.

    Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về án phí sơ thẩm:

    Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đào Sơn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Mỹ Trúc

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - PV06, Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tp. Tân Uyên;
  • - Công an tp. Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS tp. Tân Uyên;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 298/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 298/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự Đào Sơn B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger