|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 298/2023/HNGĐ-ST Ngày 20-12-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phích
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Phạm Mạnh Hùng
Ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hinh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 311/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H; nơi cư trú: Số nhà E ngõ G Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Bùi Đức T; ĐKHKTT: Khu P, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Campuchia; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là chị Vũ Thị H trình bày:
Chị Vũ Thị H và anh Bùi Đức T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện của hai bên và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng ngày 30/6/2016. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế khó khăn không lo được cho con cái. Năm 2020, anh T theo bạn sang Campuchia làm việc đến nay không về, không quan tâm đến vợ con. Mẹ con chị H đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ năm 2020 đến nay. Chị chỉ biết anh T hiện nay đang ở Campuchia nhưng địa chỉ cụ thể thì chị không rõ do anh T không cung cấp. Chị được biết anh T vẫn thường xuyên liên lạc về với người thân gia đình anh là bà nội và chú ruột của anh T là bà Nguyễn Thị B và ông Bùi Văn V; nơi cư trú: Khu P, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Đức T càng sớm càng tốt để chị ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Bùi Đức T có hai con chung là cháu Bùi Gia B1, sinh ngày 26/11/2014 và cháu Bùi Hoa P, sinh ngày 19/6/2016. Khi ly hôn, chị H yêu cầu Tòa án giao hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Chị tự giải quyết với anh T về tài sản chung, không yêu cầu Toà giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Bùi Đức T:
Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Nguyễn Thị B – là bà nội của anh Bùi Đức T. Tòa án đã thông báo cho bà Nguyễn Thị B cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Bùi Đức T ở Campuchia và yêu cầu bà Nguyễn Thị B cho biết kết quả về việc bà đã thông báo cho anh Bùi Đức T để gửi lời khai đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H cho Tòa án. Bà Nguyễn Thị B trình bày anh Bùi Đức T vẫn liên lạc qua điện thoại và qua mạng internet với bà nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể tại Campuchia của anh Bùi Đức T ở đâu do anh T không cung cấp. Bà đã thông báo cho anh Bùi Đức T về yêu cầu của Tòa án, anh T đã biết việc chị H xin ly hôn với anh T, tuy nhiên anh T không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và gửi lời khai về cho Tòa án.
Quan điểm của bà Nguyễn Thị B như sau:
Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng vào năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là mâu thuẫn về kinh tế. Năm 2020, anh T theo bạn sang Campuchia làm ăn, chị H cũng đưa 02 con chung về nhà ngoại sinh sống. Nay chị H xin ly hôn với anh T, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Bùi Đức T có hai con chung là cháu Bùi Gia B1, sinh năm 2014 và cháu Bùi Hoa P, sinh năm 2016, từ bé hai cháu ở cùng chị H. Nếu Tòa án xử cho hai anh chị ly hôn, đề nghị giao hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Gia đình không có ý kiến gì.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đề nghị xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Bùi Đức T. Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Gia B1, sinh ngày 26/11/2014 và cháu Bùi Hoa P, sinh ngày 19/6/2016 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, chị Vũ Thị H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của đương sự tại phiên tòa, xét thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về việc ly hôn. Bị đơn là anh Bùi Đức T có hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng nhưng hiện đang sinh sống ở Campuchia, nguyên đơn chị Vũ Thị H hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Vũ Thị H có đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Bùi Đức T vắng mặt tại địa phương, sinh sống ở nước ngoài nhưng không cung cấp được địa chỉ cho Tòa án và nguyên đơn biết. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng, anh Bùi Đức T đã biết các văn bản tố tụng của Tòa án được gửi cho anh thông qua bà Nguyễn Thị B nhưng anh Bùi Đức T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Bùi Đức T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 30/6/2016. Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị H và bà nội của anh T (bà Nguyễn Thị B) thể hiện quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Anh T đã được gia đình thông báo về việc chị H xin ly hôn với anh nhưng không có ý kiến gửi về cho Tòa án cũng như không đưa ra biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H đối với anh Bùi Đức T.
[4] Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung là cháu Bùi Gia B1, sinh ngày 26/11/2014 và cháu Bùi Hoa P, sinh ngày 19/6/2016, hiện hai cháu ở với chị H từ nhỏ. Ly hôn, chị H yêu cầu giao con hai chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy anh T hiện không ở Việt Nam, không có địa chỉ nơi ở cụ thể nên không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Bà nội của anh T đề nghị giao hai con chung cho chị H nuôi dưỡng trong trường hợp chị H và anh T ly hôn. Mặt khác, hai cháu Bùi Gia B1 và Bùi Hoa P đều có nguyện vọng muốn được ở với chị H. Do đó, việc chị H yêu cầu giao hai con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình và nguyện vọng của hai con chung nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên cần ghi nhận việc chị H tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Bùi Đức T.
- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Bùi Gia B1, sinh ngày 26/11/2014 và cháu Bùi Hoa P, sinh ngày 19/6/2016 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận việc chị Vũ Thị H tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000234 ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Vũ Thị H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Bùi Đức T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phích |
Bản án số 298/2023/HNGĐ-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 298/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau ly hôn Vũ Thị H - Bùi Đức Th
