Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 298/2024/HS-ST

Ngày 17 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Linh Thu Hồng

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng.

Bà Nguyễn Thị Kim Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Tống Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 286/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

Nguyễn Tuấn A (tên gọi khác: Bắc kỳ), sinh năm 1989 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 943F/6, tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: 943F/6, tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quang T (đã chết) và bà Thu Vân K; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án:

  • + Ngày 25/11/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 673/2008/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 11/4/2009). Đã đóng án phí ngày 07/9/2011.
  • + Ngày 30/9/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 545/2009/HSST. Đã đóng án phí ngày 06/4/2011.
  • + Ngày 26/01/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 36/2010/HSST. Đã đóng án phí ngày 01/9/2010.

Tổng hợp hình phạt của Bản án số 545/2009/HSST ngày 30/9/2009 và Bản án 36/2010/HSST ngày 26/01/2010 bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 06 (sáu) năm tù. Bị cáo chấp hành xong ngày 21/4/2015.

  • + Ngày 03/7/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 257/2017/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 20/8/2020). Đã đóng án phí ngày 29/8/2017.
  • + Ngày 08/11/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 491/2022/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 26/8/2023). Chưa thi hành nghĩa vụ đóng án phí.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 19/4/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 235/2007/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 23/3/2008). Đã đóng án phí ngày 08/11/2011.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ từ ngày 20/01/2024 đến ngày 29 tháng 01 năm 202 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Trần Song L, sinh năm 1988 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: M29, tổ A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: M29, tổ A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị H; Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Quách Ngọc H1 và có 01 con chung tên Trần Minh P, sinh năm 2017.

Tiền án:

  • - Ngày 12/9/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 388/2022/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 26/02/2023). Chưa thi hành nghĩa vụ đóng án phí.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 06/72004, bị Chủ tịch UBND thành phố B áp dụng biện pháp đưa vào Trường G (hai mươi bốn) tháng theo Quyết định số 1343/QĐ.CT-UBND ngày 06/7/2004.
  • + Ngày 30/9/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 613/2011/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 31/8/2015). Đã đóng án phí ngày 13/6/2012.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ từ ngày 20/01/2024 đến ngày 29 tháng 01 năm 2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

- Bị hại: Anh Nguyễn Lê Đông Â, sinh năm 1998.

2

Địa chỉ: 1 P, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Đinh Anh H2, sinh năm 1983.
  • Địa chỉ: Khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • + Chị Trần Thị L1, sinh năm 1977.
  • Địa chỉ: F B, Khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • + Anh Đồng Đức H3, sinh năm 1971.
  • Địa chỉ: Tổ A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • + Anh Võ Lê T2, sinh năm 1980.
  • Địa chỉ: Khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: Chị Đặng Thị Bích H4, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo Tuấn A1, bị cáo L có mặt; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tuấn A và Trần Song L là các đối tượng đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 18/01/2024, Tuấn A1 một mình đi bộ đến phường T, thành phố B tìm tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, khi đi đến trước nhà anh Nguyễn Lê Đông Â, tại địa chỉ số A P, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Tuấn A1 nhìn thấy bên hông nhà có 01 (một) ô cửa sổ không khoá nên đột nhập vào bên trong tìm kiếm tài sản và trộm cắp được 01 (một) giỏ xách màu đen hiệu Camelia, 02 (hai) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus, 01 (một) tai nghe Airpod pro 2 cùng số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Lê Đông Â. Sau đó, Tuấn A1 lấy tất cả tài sản trên bỏ vào giỏ xách trộm cắp được, trèo qua cửa sổ bỏ ra ngoài rồi gọi điện cho Trần Song L nói L đến cầu gần chợ T4, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đón Tuấn A1 thì được L đồng ý. L điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) chở Tuấn Al ngồi phía sau đi đến nhà nghỉ S tại địa chỉ 468/19/24 khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuê nhà nghỉ và kiểm tra tài sản trộm cắp. Tại đây, L biết các tài sản trên là tài sản do Tuấn A1 trộm cắp mà có và được Tuấn A1 cho 01 (một) điện thoại Iphone 6S Plus vừa trộm cắp được.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) chở Tuấn A1 đến tiệm mua bán điện thoại di động “Vân Trường” tại địa chỉ A Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do anh Đinh Anh H2 (sinh năm 1983,

3

thường trú: Khu phố C, phường L, thành phố B) làm chủ, thoả thuận với nhân viên của quán là chị Đặng Thị Bích H4 bán 02 (hai) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax được 19.000.000 đồng (mười chín nghìn đồng). Sau đó, Tuấn A1 dùng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) nạp vào tài khoản game, cho L 8.100.000 đồng (tám triệu một trăm nghìn đồng) và dùng 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) mua 01 xe mô tô biển số 34B2 - 037.79 của chị Trần Thị L1 (sinh năm: 1977, thường trú: Eah ding, huyện C, tỉnh Đắk Lắk). Số tiền còn lại Tuấn A1 tiêu xài cá nhân hết, còn lại 3.019.000 đồng (ba triệu không trăm mười chín nghìn đồng). L được Tuấn A1 cho 8.100.000 đồng (tám triệu một trăm nghìn đồng) nên mua 01 xe mô tô hiệu Honda Click biển số 69K3 - 7177 của anh anh Đồng Đức H3 (sinh năm: 1971, thường trú: Tổ A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) làm phương tiện đi lại với giá 5.700.000 đồng (năm triệu bảy trăm nghìn đồng) và dùng 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để chuộc căn cước công dân, số tiền còn lại L tiêu xài cá nhân hết. Do không có tiền tiêu xài đến khoảng 15 giờ cùng ngày L đem xe mô tô hiệu Honda Click biển số 69K3 - 7177 đến tiệm cầm đồ đối diện Bệnh viện Đ để cầm giấy tờ cho anh Võ Lê T2 (sinh năm 1980, thường trú: 259/4, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) với giá 580.000 đồng (năm trăm tám mươi nghìn đồng). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Tuấn A1 mang giỏ xách lấy trộm được, bên trong còn 01 (một) tai nghe Airpod, 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Lê Đông  về nhà Tuấn A1 tại F, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản anh  mở định vị tai nghe Airpod thì phát hiện tai nghe đang ở vị trí F, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên trình báo Công an. Công an phường T phối hợp Công an phường T kiểm tra hành chính tại nhà của Tuấn A1 phát hiện 01 (một) giỏ xách, bên trong có 01 (một) tai nghe Airpod, 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Lê Đông  và 01 (một) áo khoác thun, 01 (một) nón lưỡi trai Tuấn Al mặc để phạm tội. Công an phường lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý theo thẩm quyền. Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn A và Trần Song L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) túi đeo màu đen hiệu Camelia, kích thước 20x30cm; 02 (hai) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus; 01 (một) tai nghe hiệu A3; 01 (một) căn cước công dân số [...] và 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Lê Đông Â. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi, trả lại cho anh  theo quy định.

4

  • - 01 (một) xe mô tô biển số 34B2 - 037.79, số máy 44S1073813, số khung 10DY073812, 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô 34B2 - 037.79 là tài sản của chị Trần Thị L1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị L1.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Click biển số 69K3-7177, số máy JF18E0063145, số khung RLHJF18027Y363084 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô hiệu Honda Click biển số 69K3 - 7177, mang tên Lê Thanh H5 là tài sản của anh Đồng Đức H3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh H3.
  • - Tổng số tiền 15.219.000 đồng gồm: 5.700.000 đồng tạm giữ từ anh Đồng Đức H3, 6.500.000 đồng tạm giữ từ chị Trần Thị L1, 3.019.000 đồng tạm giữ từ Nguyễn Tuấn A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại 2.500.000 đồng cho anh Nguyễn Lê Đông Â, trả lại 12.719.000 đồng cho anh Đinh A2 Huỳnh.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi tạm giữ từ Nguyễn Tuấn A không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà Thu Vân K (mẹ bị cáo Tuấn A1) theo yêu cầu của bị cáo Tuấn A1.
  • - 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Song L không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông Trần Văn T1 (bố L) theo yêu cầu của bị cáo.
  • - 01 (một) áo khoác thun tay dài màu đen có viền hoa văn, không có nhãn hiệu; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen hiệu New York tạm giữ từ bà Thu Vân K chuyển xử lý cùng vụ án.
  • - 01 (một) xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) được L sử dụng làm phương tiện phạm tội là tài sản của anh Nguyễn Minh T3 (cháu bị can L). Anh T3 không biết L sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện phạm tội nên không thu giữ xe mô tô trên.
  • - 01 (một) USB chứa video nội dung vụ án, lưu cùng hồ sơ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max, loại 128Gb, số Imei 357680882317132 trị giá 13.032.000 đồng (mười ba triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng);
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro max, loại 128Gb, số I 356942218671231 trị giá 11.403.000 đồng (mười một triệu bốn trăm linh ba nghìn đồng);
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng);
  • + 01 (một) tai nghe hiệu Apple Airpod Pro trị giá 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng);

5

  • + 01 (một) giỏ xách màu đen hiệu Camelia kích thước 20x30cm trị giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).

Tổng tài sản bị chiếm đoạt trị giá 28.335.000 đồng (hai mươi tám triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Lê Đông Â, chị Trần Thị L1, anh Đồng Đức H3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Đinh Anh H2 đã được trả lại 12.719.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Võ Lê T2 không có yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số 293/CT-VKSBH ngày 16 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo Trần Song L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Trần Song L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về hình phạt:

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Bị cáo Trần Song L từ 12 (mười hai) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng hình sự:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi,

6

quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Lê Đông Â, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Anh H2, chị Trần Thị L1, anh Đồng Đức H3, anh Võ Lê T2 và người làm chứng chị Đặng Thị Bích H4 vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai. Ngày 29/5/2024, bị hại anh Nguyễn Lê Đông  có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt đã thể hiện rõ ý kiến của mình. Do vậy, việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng, lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 04 giờ ngày 18/01/2024, tại nhà số A P, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Tuấn A đã có hành vi trộm cắp 01 (một) túi đeo màu đen hiệu Camelia trị giá 100.000 đồng, 02 (hai) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax trị giá 24.435.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus trị giá 1.000.000 đồng, 01 (một) tai nghe Airpod pro 2 trị giá 2.800.000 đồng và số tiền 2.500.000 đồng của anh Nguyễn Lê Đông Â. Tổng trị giá tài sản Tuấn A1 chiếm đoạt là 30.835.000đ (ba mươi triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, tại tiệm mua bán điện thoại di động “Vân Trường” tại địa chỉ A Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Trần Song L tuy biết rõ 02 (hai) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax do Tuấn A1 trộm cắp mà có nhưng vẫn chở Tuấn A1 đi bán tài sản trên và được Tuấn A1 cho 8.100.000đ (tám triệu một trăm nghìn đồng). Đến ngày 19/01/2024, Nguyễn Tuấn A và Trần Song L bị bắt giữ và xử lý theo quy định. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Song L đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa

7

phương. Các bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng lao động nhưng không chịu làm ăn chân chính, bị cáo Tuấn A1 đã nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, bị cáo Song L bị xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản”, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội chứng tỏ các bị cáo xem thường pháp luật, khó cải tạo nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác thun tay dài màu đen xám có viền hoa văn, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 01 (một) nón lưỡi trai màu đen có hiệu New York đã qua sử dụng.

- 01 (một) USB chứa video nội dung vụ án nên lưu hồ sơ vụ án.

[8] Về các vấn đề khác: Đối với chị Đặng Thị Bích H4, anh Đinh Anh H2, chị Trần Thị L1, anh Đồng Đức H3, anh Võ Lê T2 khi mua, bán các tài sản từ Tuấn A1 và L, chị H4, anh H2, chị L1, anh H3, anh T2 không biết là tài sản do phạm tội mà có và từ khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên không xử lý là đúng quy định.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Lê Đông  và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đồng Đức H3, chị Trần Thị L1 và anh Võ Lê T2 đã nhận lại tài sản. Anh Â, anh H3, chị L1, anh T2 và anh Đinh A2 Huỳnh không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

8

Tuyên bố bị cáo Trần Song L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Trần Song L 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 01 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác thun tay dài màu đen có viền hoa văn, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng và 01 (một) nón lười trai màu đen hiệu New York đã qua sử dụng.

Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Quyết định chuyển vật chứng số 5221/QĐ-VKSBH-HS ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Biên bản việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Tuấn A và bị cáo Trần Song L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh;
  • - Viện KSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan điều tra CA TP Biên Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Linh Thu Hồng

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 298/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 298/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn Anh và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger