|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 298/2024/DS-PT Ngày: 06-8-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Thế Phương |
|
Các Thẩm phán: |
Bà Hoàng Thị Hải Hà Ông Hồ Minh Tấn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nguyên, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 122/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Trần Thị N; sinh năm 1949; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thu H; sinh năm 1969; Địa chỉ cư trú: Khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau (có mặt).
-
Bị đơn:
- Bà Trương Thị Kim L; sinh năm 1951; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- Anh Hồ Hoàng N1; sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị H1; sinh năm 1949; Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- Bà Trương Thị Kim L, Sinh năm 1951; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (là bị đơn, có mặt);
- Bà Trương Thị Kim T; sinh năm 1956; Địa chỉ cư trú: ấp I, xã N huyện U, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- Ông Trương Ngọc D; sinh năm 1959; Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Trương Minh T1; sinh năm 1961; Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- Ông Trương Minh T2; sinh năm 1964; Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Trương Tấn T3; sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- Bà Nguyễn Diễm K; sinh năm 1979; Địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
-
Trương Nguyễn N2, sinh năm 2005 và Trương Đan V, sinh năm 2013; Cùng địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (không triệu tập);
Người đại diện theo pháp luật của Trương Đan V: Bà Nguyễn Diễm K; sinh năm 1979; Địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị N (là nguyên đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của các bên đương sự và kết quả xét xử sơ thẩm, vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa bà Trần Thị N với bà Trương Thị Kim L tranh chấp với nhau phần đất ranh có diện tích theo đo đạt thực tế là 2.411,0m², thuộc thửa số 958, 959, 960, 961, 962, tờ bản đồ 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Về nguồn gốc đất là của cụ Trần Văn M khai phá. Cụ Trần Văn M có hai người con là cụ Trần Văn N3 (cha của bà Trần Thị N) và cụ Trần Thị T4 (mẹ của bà Trương Thị Kim L). Cụ Trần Văn M chia đất làm hai phần cho cụ Trần Văn N3 và cụ Trần Thị T4. Phần đất của cụ Trần Văn N3 được tặng cho lại con là bà Trần Thị N, ngày 06/02/1995 bà Trần Thị N được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: C 085628, diện tích 123.600,0m². Phần đất của cụ Trần Thị T4 cùng chồng là Trương Văn Ú quản lý sử dụng, ngày 06/02/1995 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: C 085720, diện tích 74.000m². Sau khi qua đời thì phần đất được giao lại cho bà Trương Thị Kim L cùng với con là anh Hồ Hoàng N1 sử dụng. Cụ Trần Thị T4 và cụ Trương Văn Ú có 08 người con là bà Trương Thị H1, bà Trương Thị Kim L, bà Trương Thị Kim T, ông Trương Ngọc D, ông Trương Minh T1, ông Trương Minh T2, ông Trương Tấn T3, ông Trương Văn N4 (chết năm 2021). Tất cả đều thống nhất xác định phần đất trên anh em chưa chia thừa kế và thống nhất giao cho bà Trương Thị Kim L quản lý sử dụng, thay mặt các anh chị em tham gia tố tụng trong việc tranh chấp với bà Trần Thị N. Việc thừa kế tài sản thì giữa các anh em tự thỏa thuận. Quá trình sử dụng đất đến năm 2021 thì xảy ra tranh chấp phần đất ranh giữa bà Trần Thị N với bà Trương Thị Kim L và bà Trần Thị N đã khởi kiện.
Bà Trần Thị N cho rằng, thời gian sử dụng đất bà Trương Thị Kim L không gìn giữ, bảo vệ phần bờ ranh nên đã làm mất hiện trạng, khi đưa cơ giới vào cải tạo bồi đắp lại phần bờ thì đã lấn sang phần đất của bà. Trước đây vào năm 2000-2001 khi cụ Trương Văn Ú thuê cơ giới vào múc phần đất vườn để làm đường xổ nước thì đã lấn sang phần bờ ranh chung nhưng do người trong thân tộc nên bà không yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết mà vẫn để cho cụ Trương Văn Ú sử dụng. Năm 2016, bà Trương Thị Kim L cùng với con là Hồ Hoàng N1 đã đưa cơ giới vào cải tạo đất và đã lấn sang phần bờ thuộc đất của bà, do có mối quan hệ họ hàng nên chỉ hòa giải, thương lượng trong nội bộ gia đình. Đến năm 2021, bà Trương Thị Kim L và anh Hồ Hoàng N1 tiếp tục thuê cơ giới cải tạo và bỏ đất lấn sang ranh đất của bà, bà đã yêu cầu họp thân tộc và yêu cầu Ủy ban nhân dân xã giải quyết nhưng các bên không thỏa thuận được nên bà đã khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị Kim L, anh Hồ Hoàng N1 trả lại cho bà phần đất ranh mà bà Trương Thị Kim L cùng con là Hồ Hoàng N1 lấn chiếm có diện tích là 2.411,0m².
Bà Trương Thị Kim L cho rằng, nguồn gốc đất tranh chấp đúng như phía bà Trần Thị N trình bày. Sau khi được cho đất (khoảng năm 1960) thì cha mẹ của bà (cụ Trần Thị T4 và cụ Trương Văn Ú) đã đắp bờ ranh đất, vườn bao chu vi phần đất đúng theo vị trí đất được cho và sử dụng ổn định cho đến nay (phần đất khi cho không có xác định diện tích cụ thể nhưng có xác định vị trí từng khu đất). Quá trình sử dụng đất thì cha, mẹ của bà và đến khi bà cùng với con trong gia đình quản lý, sử dụng phần đất thì hoàn toàn không có việc làm mất hiện trạng bờ hay không giữ bờ, lở đất như bà Trần Thị N trình bày. Phần đất mà bà đang quản lý vẫn do cha là cụ Trương Văn Ú đứng tên quyền sử dụng, đất còn của chung anh em, nhưng anh em thống nhất tạm giao cho bà trực tiếp quản lý, sau khi Tòa án giải quyết tranh chấp thì anh em trong gia đình sẽ tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N thì bà không đồng ý vì hiện trạng vẫn còn bờ ranh chung, giữa bà với bà Trần Thị N có quyền sử dụng ½ phần bờ theo đo đạc thực tế mà bà đã xác định.
Anh Hồ Hoàng N1, bà Trương Thị H1, bà Trương Thị Kim T, ông Trương Minh T1, ông Trương Tấn T3 thống nhất ý kiến của bà Trương Thị Kim L. Những người tham gia tố tụng còn lại không có ý kiến.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã quyết định:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N về việc yêu cầu bà Trương Thị Kim L và anh Hồ Hoàng N1 trả lại phần ranh đất lấn chiếm, diện tích 2.411,0m², thửa số 958, 959, 960, 961, 962 tờ bản đồ 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- - Giữ y hiện trạng bờ ranh chung cho bà Trần Thị N với bà Trương Thị Kim L, anh Hồ Hoàng N1 theo các điểm M3M28M27M25M32M52M51. (Kèm theo mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 04/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ).
- - Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Ngày 01/4/2024, bà Trần Thị N kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Trần Thị N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bà Trần Thị N được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về quan hệ pháp luật cho thấy, giữa bà Trần Thị N với bà Trương Thị Kim L, anh Hồ Hoàng N1 tranh chấp với nhau phần đất giáp ranh có diện tích theo đo đạt là 2.411,0m², thửa số 958, 959, 960, 961, 962 tờ bản đồ 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và áp dụng các quy định của Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự để giải quyết là có căn cứ.
[3] Xét về nguồn gốc phần đất đang tranh chấp giữa các bên là đất do ông, bà của các bên đương sự khai phá và cho lại, đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng cho bà Trần Thị N (nguyên đơn) và ông Trương Văn Ú (cha của bị đơn). Phần đất đang do bà Trương Thị Kim L (bị đơn) quản lý là thuộc di sản thừa kế của cụ Trần Thị T4 và cụ Trương Văn Ú để lại chưa được phân chia cho các đồng thừa kế. Các đồng thừa kế đều thống nhất tạm giao cho bà Trương Thị Kim L quản lý, sử dụng, thay mặt các đồng thừa kế tham gia tố tụng trong việc tranh chấp với bà Trần Thị N và tự phân chia di sản thừa kế. Ngoài việc tranh chấp phần ranh đất giữa bà Trần Thị N với bà Trương Thị Kim L thì hai phần đất trên hiện không có tranh chấp với người khác.
[4] Xét về nội dung tranh chấp và kháng cáo của bà Trần Thị N cho thấy: Giữa bà Trần Thị N và bà Trương Thị Kim L tranh chấp với nhau phần đất giáp ranh có diện tích là 2.411,0m², đang do bà Trương Thị Kim L cùng với con là anh Hồ Hoàng N1 quản lý, sử dụng. Phần đất tranh chấp này bà Trần Thị N và bà Trương Thị Kim L đều cho rằng là đất tranh chấp thuộc diện tích đất của mình, đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần tiếp giáp giữa hai phần đất thì hiện trạng có bờ ranh rõ ràng để phân biệt ranh giới.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà Trần Thị N căn cứ vào diện tích đất đo đạt thực tế là 111.925,5m² thì thiếu 11.000m² (11.674,5m²) so với diện tích đất được cấp quyền sử dụng; hiện trạng bờ ranh bị dịch chuyển khi cải tạo đất, không còn đúng vị trí so với thời điểm phân chia đất và không đúng vị trí, hiện trạng ranh khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chiều dài một số cạnh của phần đất không đủ so với phần đất được cho như trước đây.
Xét qua các căn cứ mà bà Trần Thị N đặt ra cho thấy, tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 085628 ngày 06/02/1995 được cấp cho bà Trần Thị N diện tích đất được cấp 123.600m² và theo kết quả đo đạt phần đất của bà Trần Thị N có diện tích là 111.925,5m², bà Trần Thị N cho rằng thiếu diện tích 11.000m² (11.674,5m²). Nhưng diện tích đất tranh chấp với bà Trương Thị Kim L chỉ có 2.411m² ngoài ra không còn tranh chấp với người khác. Mặc khác, khi thực hiện thủ tục đăng ký cấp quyền sử dụng thì tại thời điểm năm 1993, dựa trên diện tích đất ghi nhận tại sổ mục kê từ đó bà Trần Thị N lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã T để trình Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị N, việc cấp giấy chứng nhận không được tiến hành đo đạt, cấm mốc trên thực địa. Từ đó, diện tích phần đất được cấp giấy chứng nhận không đúng với diện tích đất thực tế mà bà Trần Thị N quản lý. Từ diễn biến trên, không thể dựa vào diện tích phần đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 085628 ngày 06/02/1995 để xác định phần đất tranh chấp thuộc về quyền sử dụng của bà Trần Thị N.
Các đương sự cũng thừa nhận là khi cụ Trần Văn N3 (cha của bà Trần Thị N) và cụ Trần Thị T4 (mẹ của bà Trương Thị Kim L) được cho đất thì cả hai phần đất cũng đều không có đo đạt diện tích cụ thể mà chỉ được xác định theo các điểm mốc để làm ranh và bờ ranh cũng hình thành từ thời điểm được phân chia đất cho cụ Trần Văn N3 và cụ Trần Thị T4, việc phân chia đất được thực hiện từ trước năm 1975. Hiện trạng phần bờ ranh này theo bà Trần Thị N xác định đã bị ông Trương Văn Ú thuê cơ giới dịch chuyển phần bờ ranh lấn sang phần đất của bà vào năm 2000 – 2001, đến năm 2016 thì bà Trương Thị Kim L dùng cơ giới dịch chuyển bờ ranh lấn sang phần đất của bà một lần nữa và tiếp tục đến năm 2021 bà Trương Thị Kim L thuê cơ giới múc đất bỏ lấn sang đất của bà nên đã phát sinh tranh chấp. Còn phía bà Trương Kim L thì xác định là phần bờ ranh hiện nay là bờ ranh chung của hai phần đất đã được các bên quản lý sử dụng ổn định, bà không có dịch chuyển bờ ranh lấn sang đất của bà Trần Thị N. Xét qua 03 lần dịch chuyển bờ ranh, lấn đất vào các năm 2000-2001, 2016 và 2021 thì ngoài lời khai ra bà Trần Thị N không cung cấp được bất cứ chứng cứ, tài liệu nào để chứng minh. Trong khi đó hiện tại bờ ranh vẫn còn giữ nguyên hiện trạng và được các bên sử dụng ổn định qua thời gian dài và không thể hiện việc tranh chấp nhất là từ năm 2021 về trước. Đồng thời, việc cụ Trần Văn N3 và cụ Trần Thị T4 khi được cho đất không có đo đạt cụ thể và cũng không xác định được diện tích, không xác định được chiều dài các cạnh nên không có căn cứ để so sánh với chiều dài các cạnh của các phần đất theo đo đạt thực tế khi tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị N xác định khi cụ Trần Văn N3 được cho đất thì phần đất có đo, nhưng không xác định được diện tích cụ thể mà chỉ ước lượng khoảng 70 đến 75 công; chiều ngang đoạn giáp Lung Sen (tại vị trí lộ bê tông hiện nay) có độ dài 108 mét. Tuy nhiên, việc đo đạt đất khi phân chia như lời khai của bà Trần Thị N thì không có căn cứ để công nhận và độ dài chiều ngang tại vị trí lộ bê tông hiện nay qua đo đạt thực tế phần không tranh chấp cũng đã có chiều dài 189,38 mét.
Từ các cơ sở trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp và có căn cứ pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị N cũng không cung cấp thêm được chứng cứ nào khác. Do đó, cấp phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
[6] Bà Trần Thị N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Trần Thị N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
-
Áp dụng các Điều 26; 147, 148; 157; của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 của Luật đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N về việc yêu cầu bà Trương Thị Kim L và anh Hồ Hoàng N1 trả lại phần ranh đất lấn chiếm, diện tích là 2.411,0m² thuộc thửa số 958, 959, 960, 961, 962 tờ bản đồ 05, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- - Giữ y hiện trạng bờ ranh chung cho bà Trần Thị N với bà Trương Thị Kim L và anh Hồ Hoàng N1, phần ranh được xác định theo các điểm mốc M3M28M27M25M32M52M51 của Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất lập ngày 04/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ.
- - Bà Trần Thị N phải chịu chi phí xem xét thẩm định là 23.326.000 đồng, bà Trần Thị N đã nộp thanh toán xong.
- - Bà Trần Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Phương |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Thị Hải Hà – Hồ Minh Tấn |
Nguyễn Thế Phương |
Bản án số 298/2024/DS-PT ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 298/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị N xác định khi cụ Trần Văn N3 được cho đất thì phần đất có đo, nhưng không xác định được diện tích cụ thể mà chỉ ước lượng khoảng 70 đến 75 công; chiều ngang đoạn giáp Lung Sen (tại vị trí lộ bê tông hiện nay) có độ dài 108 mét. Tuy nhiên, việc đo đạt đất khi phân chia như lời khai của bà Trần Thị N thì không có căn cứ để công nhận và độ dài chiều ngang tại vị trí lộ bê tông hiện nay qua đo đạt thực tế phần không tranh chấp cũng đã có chiều dài 189,38 mét. Từ các cơ sở trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp và có căn cứ pháp luật.
