TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 298/2025/LĐ-ST Ngày: 19-6-2025 V/v: Tranh chấp về hợp đồng lao động. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Yến và Ông Lê Văn Công;
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 114/2025/TLST-LĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng lao động, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2025/QĐXXST-LĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị Kim H, sinh năm 1994; nơi thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: 15/19, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần T2; địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Anh T, Giám đốc hành chính nhân sự (Giấy ủy quyền số 04/2024/GUQ-TDF ngày 08/5/2025). Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Kim T1, sinh năm 2006; nơi thường trú: Tổ B, ấp Đ, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ liên lạc: 126/4, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày:
Do có nhu cầu rút bảo hiểm xã hội một lần nên bà Lương Thị Kim H có liên hệ với Bảo hiểm xã hội thành phố T để rút bảo hiểm theo quy định. Tại đây, bà H được thông báo thời điểm từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2019 bà H có ký hợp đồng lao động làm việc tại Công ty Cổ phần T2 (Gọi tắt là Công ty) và có đóng bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, thời gian này bà H đang làm việc tại công ty khác nên không có thể cùng một lúc đóng bảo hiểm xã hội tại hai công ty khác nhau. Vào khoảng thời gian này, bà Lương Thị Kim H có cho bà Đặng Thị Kim T1 mượn hồ sơ để xin việc làm tại Công ty Cổ phần T2. Thời gian làm việc ở đây, bà T1 lấy tên bà H để ký hợp đồng lao động với Công ty và được Công ty đóng BHXH từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2019. Vì vậy, khi bà H đi làm thủ tục rút bảo hiểm xã hội một lần ở Cơ quan Bảo hiểm xã hội mới biết sự việc bị trùng thời gian đóng BHXH nêu trên nên không thực hiện được. Do đó, bà Lương Thị Kim H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa người lao động có tên Lương Thị Kim H (Do bà Đặng Thị Kim T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty Cổ phần T2 trong khoảng thời gian từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2019 là vô hiệu. Bà Lương Thị Kim H tự nguyện chịu án phí sơ thẩm.
Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 23/4/2025, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:
Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án mới biết là do bà Đặng Thị Kim T1 mượn hồ sơ của bà H để ký hợp đồng lao động với Công ty. Công ty luôn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật nhưng người lao động không trung thực, sử dụng giấy tờ của người khác nên công ty không thể nào biết được. Công ty yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do bận việc và công tác thường xuyên, nhân viên của Công ty còn nhiều việc phải làm nên Công ty yêu cầu vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim T1 trình bày:
Vào khoảng tháng 4/2019, bà T1 có mượn chứng minh nhân dân của bà Lương Thị Kim H để ký kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần T2 và được Công ty đóng BHXH từ tháng 4/2019 dưới tên Lương Thị Kim H. Vì vậy, tên bà Lương Thị Kim H trong cùng một thời gian có đóng bảo hiểm xã hội tại hai công ty khác nhau. Đến tháng 9/2019 bà T1 nghỉ việc tại Công ty nhưng chưa liên hệ Cơ quan BHXH để giải quyết chế độ BHXH. Nay bà Lương Thị Kim H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lương Thị Kim H (do bà T1 ký) với Công ty cổ phần T2 là vô hiệu bà T1 thống nhất; bà T1 không có yêu cầu độc lập đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:
+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
+ Về nội dung: Căn cứ Điều 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 127; Điều 131 của Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Các đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lương Thị Kim H khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Lương Thị Kim H (do bà Đặng Thị Kim T1 là người ký) với người sử dụng lao động là Công ty cổ phần T2 từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2019 là vô hiệu toàn bộ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hợp đồng lao động được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty cổ phần T2 có địa chỉ trụ sở tại phường B, thành phố T. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
[4] Về nội dung tranh chấp: Bà Lương Thị Kim H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa bà Lương Thị Kim H (Do bà Đặng Thị Kim T1) với Công ty cổ phần T2 là vô hiệu. Sau khi khởi kiện, bà H và các đương sự khác không cung cấp được tài liệu, chứng cứ là bản Hợp đồng lao động. Tuy nhiên, các đương sự đều thống nhất có việc giao kết hợp đồng và Công ty có thực hiện nộp các khoản bảo hiểm xã hội cho người có tên Lương Thị Kim H trong khoảng thời gian bà Lương Thị Kim H đang thực hiện hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội ở Công ty khác. Do đó, sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà Đặng Thị Kim T1 dùng giấy tờ tùy thân của bà Lương Thị Kim H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần T2 là không đúng chủ thể xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc trung thực khi xác lập quan hệ lao động được quy định tại Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019. Theo Công văn số 402/CV-BHXH ngày 15/5/2025 của BHXH thành phố T, trong khoảng thời gian nêu trên bà Lương Thị Kim H cũng đang làm việc và đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH S thuộc khu phố B, phường B, thành phố T. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa người lao động tên Lương Thị Kim H và Công ty cổ phần T2 từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2019 là có cơ sở chấp nhận.
Bà Đặng Thị Kim T1 không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Ghi nhận tự nguyện của bà Lương Thị Kim H về việc nộp án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 117, 122, 127; 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 15, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019;
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Kim H về việc tranh chấp hợp đồng lao động với bị đơn Công ty cổ phần T2.
Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa người lao động có tên Lương Thị Kim H (Do bà Đặng Thị Kim T1 ký kết) với Công ty cổ phần T2 từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2019 bị vô hiệu.
2. Về hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu: Bảo hiểm xã hội thành phố T thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Lương Thị Kim H theo quy định pháp luật.
3. Về án phí: Bà Lương Thị Kim H tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000885 ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Trọng Quân |
Bản án số 298/2025/LĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về hợp đồng lao động
- Số bản án: 298/2025/LĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu do cho mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động
