Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 298/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 20 - 6 - 2025.

V/v“Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồ Cảnh, bà Hoàng Thị Hường.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thuý Nga - Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 305/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 284/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 262/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: xóm A, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: anh Lê Văn D, sinh ngày 15/12/1981; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: xóm A, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An, hiện nay đang ở nước ngoài. Vắng mặt có đề nghị vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hồng L và bà Nguyễn Thị Đ; cùng trú tại: xóm A, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn, chị Lê Thị H1 trình bày:

Chị Phan Thị H và anh Lê Văn D tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã C) huyện H, tỉnh Nghệ An và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36 quyển số 1/2009 đăng ký ngày 23/11/2009. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng anh chị sống rất hạnh phúc. Vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên năm 2022 anh D đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Vợ chồng anh D chị H vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua mạng xã hội facebook. Nhưng vì khoảng cách địa lý quá xa, không có nhiều thời gian dành cho nhau vì thế thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn cãi vã thường xuyên, dần dần tình cảm vợ chồng rạn nứt, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Cuối năm 2024 đến nay hai vợ chồng cắt đứt liên lạc với nhau. Hiện nay, tình trạng hôn nhân của chị H và anh D ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn D.

Về con chung: chị H và anh D có 01 con chung Lê Đức M, sinh ngày 31/8/2010. Hiện nay cháu đang sống cùng với ông bà nội tại xóm A, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị H có nguyện vọng giao con cho anh D nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng: Chị H không có ý kiến.

Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân của bị đơn và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng anh D đều vắng mặt không có lý do.

Chị Phan Thị H không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc hiện nay của anh Lê Văn D. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu thân nhân anh D là ông Lê Hồng L và bà Nguyễn Thị Đ (là bố mẹ đẻ của Lê Văn D, cư trú tại xóm A, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh Lê Văn D); yêu cầu bà Đ thông báo cho anh D biết chị H đang khởi kiện ly hôn anh Lê Văn D và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết; đề nghị anh D gửi lời khai, yêu cầu cho Tòa án. Ông L và bà Đ cho biết anh D đang làm việc ở nước ngoài, vẫn liên lạc với gia đình; anh D đã biết chị H đang khởi kiện ly hôn anh D và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết. Nhưng do anh D không có địa chỉ ổn định để cung cấp cho Tòa án; anh D1 có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Lê Văn D trở về Việt Nam. Anh Lê Văn D đã trực tiếp đến Tòa án đề nghị Tòa án lấy lời khai của mình như sau: Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H, anh D có ý kiến:

Về tình cảm: Về họ và tên vợ, ngày tháng năm sinh, quê quán của chị H; ngày tháng năm kết hôn; hai người tự nguyện kết hôn anh đồng ý như chị H đa khai. Vì hoàn cảnh gia đình nên năm 2022 anh đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ trước đến nay, vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì. Nay anh được biết chị H khởi kiện với anh. Anh đã nhận và biết được các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý vụ án; được tiếp cận các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; được nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H, anh đồng ý.

Về con chung: Anh thống nhất anh và chị H có 01 con chung là cháu Lê Đức M, sinh ngày 31/8/2010, hiện nay cháu M đang cùng sống với ông bà nội (ông Lê Hồng L và bà Nguyễn Thị Đ). Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Anh chỉ được về Việt Nam trong thời gian ngắn, ngày 21/6/2025 anh sẽ tiếp tục quay trở lại Đài Loan làm việc. Anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là Lê Đức M. Tuy nhiên, vì điều kiện phải đi làm ăn nên anh đề nghị Toà án tạm giao cháu Lê Đức M, sinh năm 31/8/2010 cho ông bà nội cháu là ông L và bà Đ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu trong thời gian anh D đi làm ăn ở bên nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh Dũng nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Nguyện vọng của cháu Lê Đức M: cháu là con của mẹ Phan Thị H và bố Lê Văn D. Khi bố mẹ ly hôn, cháu có mong muốn được ở với mẹ.

Tại Biên bản lấy lời khai, ông Lê Hồng L và bà Nguyễn Thị Đ trình bày: ông bà đã chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M từ năm 2022 đến nay. Nay anh D và chị H ly hôn, ông bà không yêu cầu tiền công chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M. Ông bà có ý kiến rằng khi anh D và chị H ly hôn Toà án giao con chung cho ai nuôi, ông bà cũng đồng ý chăm sóc, quản lý giáo dục cháu trong thời gian anh D và chị H đi làm ăn và không yêu cầu tiền công.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Lê Văn D; giao con chung Lê Đức M, sinh ngày 31/8/2010cho anh Lê Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do anh D không yêu cầu.Về tài sản chung, nợ chung: do chị H chưa yêu cầu, nên không xem xét.

- Về án phí: chị Phan Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng.

[1.1] Về thẩm quyền: Bị đơn, anh Lê Văn D có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: xóm A, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Theo Công văn số 2069/QLXNC-Đ1 ngày 02/6/2025 của Phòng Q – Công an tỉnh N thì anh Lê Văn D xuất cảnh ngày 18/7/2023 qua Cửa khẩu sân bay quốc tế N, nhập cảnh ngày 24/5/2025 qua Cửa khẩu sân bay quốc tế N, tại thời điểm thụ lý vụ án anh Lê Văn D đang ở nước ngoài nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1, 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay anh Lê Văn D vắng mặt tại nơi cư trú và đang ở nước ngoài.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn, chị Phan Thị H đã trực tiếp đến Tòa án để làm việc, được tiếp cận công khai chứng cứ và trình bày ý kiến của mình, nhưng không thể tham gia phiên tòa, nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án đã tiến hành xác minh lấy lời khai của ông Lê Hồng L và bà Nguyễn Thị Đ là bố đẻ của anh D2 yêu cầu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh D biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa chị H2 anh D. Tuy nhiên, ông L và bà Đ không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh D do anh D không cho ông biết; anh D không có ý kiến gì. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng anh D trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuy nhiên đến ngày 19/6/2025 anh Lê Văn D đã có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị H, đồng thời xin được xét xử vụ án vắng mặt.

Chị Phan Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Lê Hồng L, bà Nguyễn Thị Đ đề nghị vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số 01/2009 của Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã C), huyện H, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị H và anh Lê Văn D là hợp pháp. Sau khi kết hôn,vì điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2022 anh Lê Văn D đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, Thời gian đầu ra nước ngoài chị H, anh D thường xuyên gọi điện hỏi thăm, động viên nhau. Nhưng vì khoảng cách địa lý quá xa, không có nhiều thời gian dành cho nhau nên thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn cãi vã thường xuyên, dần dần tình cảm vợ chồng rạn nứt, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Cuối năm 2024 đến nay hai vợ chồng cắt đứt liên lạc với nhau. Hiện nay, tình trạng hôn nhân của chị H và anh D ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, cả hai người không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân.

Xét thấy: tình trạng hôn nhân giữa chị Phan Thị H và anh Lê Văn D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Lê Văn D là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: chị Phan Thị H và anh Lê Văn D có 01 con chung là Lê Đức M, sinh ngày 31/8/2010, không ai có con nuôi, con riêng. Hiện nay cháu M đang ở cùng với ông bà nội. Chị H có ý kiến đề nghị Tòa án giao con cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Lê Đức M. Ông L và bà Đ đồng ý nhận chăm sóc cháu M. Xét thấy, từ nhỏ cháu M đã ở với ông bà nội, hiện nay chị H đi làm ăn thường xuyên, anh D đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài nhưng đã đề nghị tạm giao cháu M cho ông L và bà Đ trong thời gian anh D đi làm ăn, ông bà tiếp tục tự nguyện nhận nuôi dưỡng, chăm sóc cháu M. Cháu M có nguyện vọng được ở với mẹ, tuy nhiên chị H đã có văn bản đề nghị giao cháu M cho anh D được quyền trực tiếp nuôi con. Mặt khác, cháu M đã ở cùng ông bà nội từ năm 2022 đến nay. Để đảm bảo ổn định việc học hành cũng như cuộc sống hằng ngày của cháu Lê Đức M, cần giao cháu cho anh D nuôi dưỡng, chăm sóc và chấp nhận sự tự nguyện của ông L, bà Đ nhận trách nhiệm tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M trong thời gian anh D đi làm ăn là phù hợp với thực tế và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa. Chị H không phải đóng góp nuôi con do anh D không yêu cầu.

Về công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu, ông L và bà Đ không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Phan Thị H và anh Lê Văn D không yêu cầu nên không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3] Về án phí sơ thẩm: chị Phan Thị H phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Phan Thị H được ly hôn anh Lê Văn D.
  2. Về con chung:
    1. Giao con chung Lê Đức M, sinh ngày 31/8/2010 cho anh Lê Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
    2. Tạm giao cháu Lê Đức M cho ông Lê Hồng L và bà Nguyễn Thị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh D đi làm ăn ở nước ngoài.

    3. Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét.
    4. Về tiền công chăm sóc cháu M từ năm 2022 đến nay, ông L và bà Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông L và bà Đ có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

    5. Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    6. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: chị Phan Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp (ông Nguyễn Thanh T nộp thay) tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai số 0007723 ngày 18/4/2025.
  5. Về quyền kháng cáo:
    1. Chị Phan Thị H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    2. Anh Lê Văn D đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Châu Nhân;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 298/2025/HNGĐ – ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 298/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger