Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 298/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 11/12/2025

Về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Thanh Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Lý

Ông Danh Sà Khol

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – An Giang tham phiên tòa: Không.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 269/2025/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 04 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 2002.
  • Địa chỉ: ấp V, xã B, tỉnh An Giang.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996.
  • Địa chỉ: ấp R, xã B, tỉnh An Giang.

(Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trương Thị H trình bày như sau:

- Về hôn nhân: chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T1 tìm hiểu yêu thương nhau, có tổ chức lễ cưới, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 26/11/2020. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2023 thì anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống hôn nhân, gia đình hai bên có khuyên bảo nhưng không thành. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn được. Do đó, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T trong thời gian chung sống có một người con chung tên Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 2021. Chị H yêu cầu được nuôi cháu V, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo bản tự khai của bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Trương Thị H tự tìm hiểu yêu thương nhau, có tổ chức lễ cưới vào năm 2017 và anh chị có đăng ký kết hôn vào năm 2020. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng về sau thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng với chị H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T đồng ý ly hôn với chị Trương Thị H.

- Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Trương Thị H trong thời gian chung sống có một người con chung tên tên Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 2021, hiện đang sống cùng chị H. Anh T đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Trương Thị H không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Trương Thị H không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Trương Thị H yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn T. Bị đơn cư trú tại ấp R, xã B, tỉnh An Giang. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về việc “Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân".

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trương Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt chị H và anh T tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có cơ sở xác định chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn Tình T1 tìm hiểu yêu thương nhau, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 26/11/2020. Như vậy, hôn nhân giữa chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo đơn khởi kiện chị Trương Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T do bất đồng trong cuộc sống hôn nhân. Đồng thời anh Nguyễn Văn T cũng đồng ý ly hôn với chị Trương Thị H không có nguyện vọng muốn đoàn tụ. Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ để chứng minh được mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không đạt được mục đích. Nên việc chị H xin ly hôn với anh T thì Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T có một người tên Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 2021, hiện đang sống cùng chị T. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và anh T cũng đồng ý. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của anh chị nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Giao con chung tên Nguyễn Thị Tường V cho chị Trương Thị H nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

[3.3.] Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét.

[3.4] Về tài sản chung: Chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T xác định anh chị không có tài sản chung và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.5] Về nợ chung: Chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T xác định anh chị không có nợ ai và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Trương Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị H.

1/. Về hôn nhân: Chị Trương Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2/. Về con chung: Giao cho chị Trương Thị H tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên tên Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 2021 đến tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

3/. Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4/. Về tài sản chung: Chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

5/. Về nợ chung: Chị Trương Thị H và anh Nguyễn Văn T trình bày không có nợ chung nên không xét.

6/. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trương Thị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008975 ngày 17/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Theo đó chị H không phải nộp thêm.

7/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Danh Sà K

Đặng Thanh S

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 298/2025/HNGĐ-ST. ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – AN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 298/2025/HNGĐ-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger