Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 298/2025/DS-PT

Ngày 29/5/2025

Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Trịnh Thị Phúc

Các Thẩm phán:Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 476/2024/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 151/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Trung H, sinh năm 1970.

    Địa chỉ: số A, khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

    Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1974.

    Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện T, tỉnh Long An.

    Chỗ ở hiện nay: khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1976.

      Địa chỉ: số A, khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

      Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

    2. Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1992.

      Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện T, tỉnh Long An.

      Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1980.

Địa chỉ: số D, khu phố R, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn P

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 7 năm 2024 cùng các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Trung H do ông Phùng Minh P2 đại diện trình bày như sau:

Ngày 04 tháng 3 năm 2023, ông H có cho ông P vay số tiền 80.000.000đồng và thỏa thuận đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 trả.

Ngày 24 tháng 3 năm 2023, ông H có cho ông P mượn 05 chỉ vàng 24K9999 và thỏa thuận đến ngày 15 tháng 4 năm 2023 trả nhưng đến hẹn dù ông H đã nhiều lần yêu cầu ông P trả nợ nhưng ông P cố tình tránh né không trả. Nay ông H yêu cầu ông P có trách nhiệm trả cho ông H số tiền 80.000.000đồng và 05 chỉ vàng 24K (vàng 9999) tương đương số tiền 35.000.000đồng. Ngoài ra, ông H không yêu cầu tính lãi suất.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông P xác nhận còn nợ ông H số tiền 80.000.000đồng và không có mượn 05 chỉ vàng 24K (vàng 9999). Nay ông H yêu cầu ông P có trách nhiệm trả cho ông H số tiền 80.000.000đồng và 05 chỉ vàng 24K (vàng 9999) tương đương số tiền 35.000.000đồng thì ông P chỉ đồng ý trả số tiền 80.000.000đồng còn 05 chỉ vàng 24K (vàng 9999) thì ông P không đồng ý trả vì ông P không có mượn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc Đ trình bày: Ông là con ruột của ông P, ông P không biết chữ nên ông có thay ông P ghi bản tự khai ngày 23 tháng 4 năm 2024. Nội dung bản tự khai trên do Hòa giải viên hướng dẫn và sau khi ghi xong thì ông P lăn tay vào bản tự khai. Ngoài ra, ông không còn biết gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị G trình bày: Bà G là vợ của ông H và là em ruột của ông P. Bà xác định vợ chồng bà có cho ông P mượn tiền và vàng đúng theo như lời ông H trình bày. Do chỗ quen biết anh em nên tin tưởng nhau nhưng nay ông P không trả nợ mà còn thách thức nên mới đi kiện. Bà thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông H và không trình bày bổ sung gì thêm.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn P1 trình bày: Ông không chứng kiến việc ông H cho ông P mượn 05 chỉ vàng 24K (vàng 9999) ngày tháng năm nào nhưng ông có nghe ông P nói lại là ông P có mượn 05 chỉ vàng 24K (vàng 9999) của ông H. Ngoài ra, ông không biết gì khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 476/2024/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ông Lê Trung H về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Văn P.

Buộc ông Nguyễn Văn P phải có trách nhiệm trả cho ông Lê Trung H số tiền là 115.000.000đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm chịu số tiền 5.750.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho ông Lê Trung H số tiền 2.875.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 5843 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa nhận được đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn P kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đồng ý trả cho ông H số tiền còn nợ 80.000.000đồng nhưng xin được trả dần, không đồng ý trả 5 chỉ vàng 24K (vàng 9999) cho ông H.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận:

Ông P trình bày: Đối với số tiền 80.000.000đồng thừa nhận còn nợ và xin trả dần mỗi tháng 1.000.000đồng, thời gian bắt đầu trả nợ là ngày 01/7/2025 đến khi hết nợ. Đối với 5 chỉ vàng 24K ông P trình bày không mượn của ông H, còn nội dung bản tự khai ngày 23/9/2024, do ông không biết chữ nên nhờ con ông là Nguyễn Ngọc Đ ghi hộ, nội dung bản tự khai anh Đ ghi theo hướng dẫn của hòa giải viên, ghi xong không đọc lại cho ông nghe mà chỉ kêu ông lăn tay điểm chỉ. Do đó, ông xác định không mượn 5 chỉ vàng 24K của ông H nên không đồng ý trả.

Ông H trình bày: Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về chấp hành pháp luật: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn P trong thời hạn quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án:

Xét kháng cáo của ông P không đồng ý trả 5 chỉ vàng 9999 cho nguyên đơn. Xét thấy, tại Bản tự khai ngày 23/9/2024 của ông Nguyễn Văn P (có con ruột của ông P là Nguyễn Ngọc Đ ghi thay), thể hiện ông P trình bày là ông có mượn 5 chỉ vàng 9999 nhưng ông đã trả đủ cho ông H. Từ lời trình bày trên, có cơ sở xác định ông P có mượn của ông H 05 chỉ vàng 9999. Vì vậy trách nhiệm chứng minh đã trả đủ 05 chỉ vàng 9999 là thuộc về ông P. Ông P không chứng minh đã trả đủ cho ông H 05 chỉ vàng 9999 nên Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông P phải trả cho ông H 05 chỉ vàng (quy ra giá trị tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo yêu cầu của ông H là 35.000.000đồng) là phù hợp quy định pháp luật. Kháng cáo của ông P không có cơ sở chấp nhận.

Ông P đồng ý trả cho ông H 80.000.000đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000đồng bắt đầu từ ngày 01/7/2025 cho đến khi hết nợ, nhưng không được ông H đồng ý và pháp luật cũng không quy định.

Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn P trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về giải quyết yêu cầu kháng cáo của ông P:

[2.1] Xét kháng cáo của ông P xin trả dần số tiền 80.000.000đồng cho ông H. Ông P thừa nhận còn nợ ông H 80.000.000đồng và đồng ý trả số tiền này nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000đồng thời gian trả bắt đầu từ ngày 01/7/2025, yêu cầu xin trả dần của ông P không được ông H chấp nhận, hơn nữa pháp luật không quy định việc trả dần, do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin trả dần của ông P.

[2.2] Xét kháng cáo của ông P không đồng ý trả cho ông H 5 chỉ vàng 24K (vàng 9999). Ông P trình bày không mượn 5 chỉ vàng của ông H và ông H không cung cấp được giấy mượn vàng. Mặc dù, ông H không cung cấp được chứng cứ chứng minh có cho ông P mượn 5 chỉ vàng 24K, tuy nhiên trong bản tự khai ngày 23 tháng 9 năm 2024, ông P thừa nhận có mượn vàng của ông H 5 chỉ vàng và đã trả rồi nhưng không có chứng cứ chứng minh đã trả 5 chỉ vàng. Mặt khác, anh Đ là con ruột của ông P là người đã thành niên và có năng lực hành vi dân sự là người trực tiếp ghi lời khai giúp ông P, sau đó ông P điểm chỉ. Tuy nhiên, ông P cho rằng nội dung bản tự khai ngày 23/9/2024 do Hòa giải viên hướng dẫn con ông ghi và sau khi ghi xong không đọc lại cho ông nghe. Xét thấy, lời trình bày của ông P và anh Đ cho rằng ghi theo hướng dẫn của hòa giải viên nhưng không có căn cứ chứng minh. Hơn nữa giữa ông P và ông H là anh vợ, em rể nên ông H và bà G trình bày do anh em trong nhà tin tưởng nhau nên không làm giấy là có cơ sở. Ngoài ra, ông P1 (người làm chứng) là em ruột của ông P trình bày mặc dù ông P1 không chứng kiến việc ông H cho ông P mượn vàng, nhưng sau đó ông P có nói cho ông P1 nghe là có mượn 5 chỉ vàng của ông H. Do đó, có căn cứ xác định ông P có vay của ông H 5 chỉ vàng 24K nên án sơ thẩm buộc ông P có nghĩa vụ trả cho ông H 5 chỉ vàng 24K (vàng 9999) là có căn cứ. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông P.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[2.4] Từ những nhận định trên, không chấp nhận kháng cáo của ông P, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của ông P không được chấp nhận nên ông P phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn P.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 476/2024/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463, 466, 468, 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ông Lê Trung H về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Văn P.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn P phải có trách nhiệm trả cho ông Lê Trung H số tiền là 115.000.000đồng.

    Kể từ khi có đơn yêu cầu thị hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn P có trách nhiệm chịu số tiền 5.750.000đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. H1 lại cho ông Lê Trung H số tiền 2.875.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 5843 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn P phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000đồng tiền tạm ứng ông P đã nộp theo biên lai thu số 0006900 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
  5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 298/2025/DS-PT ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 298/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger