Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 298/2025/DS-PT
Ngày: 13/6/2025
V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải
Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 194/2024/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Cái Răng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 254/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc S; sinh năm: 1966.
Địa chỉ: A đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn:
1. Ông Lê Trung H; sinh năm: 1954.
Địa chỉ: I Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Ngọc H1, sinh năm: 1989;
Địa chỉ: B Đường C, Khu Tái định Cư P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ (Văn bản uỷ quyền ngày 04/7/2024).
2. Bà Lê Ánh T; sinh năm: 1964.
Địa chỉ: G đường Số E, Khu dân cư E, Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Văn H2 (người thừa kế của bà Lê Ngọc T1; sinh năm: 1949, chết năm 2021).
  2. Huỳnh Ngọc T2; sinh năm: 1972 (Người thừa kế của bà Lê Ngọc T1; sinh năm: 1949, chết năm 2021).
  3. Huỳnh Long K (Người thừa kế của bà Lê Ngọc T1; sinh năm: 1949, chết năm 2021).
  4. Huỳnh Long A; sinh năm: 1975 (Người thừa kế của bà Lê Ngọc T1; sinh năm: 1949, chết năm 2021).
  5. Huỳnh Long B; sinh năm: 1978 (Người thừa kế của bà Lê Ngọc T1; sinh năm: 1949, chết năm 2021).
  6. Huỳnh Thị Ngọc T3 (Người thừa kế của bà Lê Ngọc T1; sinh năm: 1949, chết năm 2021).
    Cùng địa chỉ: I Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
  7. Bà Lê Kim Q; sinh năm: 1952.
    Địa chỉ: I Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
  8. Bà Lê Kim T4, sinh năm: 1958.
    Địa chỉ: Số B Ấp P, xã Đ, tỉnh Hậu Giang.
  9. Ông Lê Tuấn K1; sinh năm: 1962.
    Địa chỉ: I Khu V, phường P, quận C, thành phố.
  10. Bà Nguyễn Thị Thúy L; sinh năm: 1969 (Người thừa kế của ông Lê Hoàng V, sinh năm: 1968, chết năm: năm 2007).
  11. Lê Nguyễn Thiện P; sinh năm: 1989 (Người thừa kế của ông Lê Hoàng V, sinh năm: 1968, chết năm: năm 2007).
    Đại diện theo uỷ quyền: bà Nguyễn Thị Thúy L; sinh năm: 1969.
  12. Lê Nguyễn Thiên T5; sinh năm: 1992 (Người thừa kế của ông Lê Hoàng V, sinh năm: 1968, chết năm: năm 2007).
  13. Lê Nguyễn Băng T6; sinh năm: 2000 (Người thừa kế của ông Lê Hoàng V, sinh năm: 1968, chết năm: năm 2007).
    Đại diện theo uỷ quyền: bà Nguyễn Thị Thúy L; sinh năm: 1969.
  14. Lê Nguyễn Kim P1; sinh ngày 15/9/2007 (Người thừa kế của ông Lê Hoàng V, sinh năm: 1968, chết năm: năm 2007).
    Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thúy L.
    Cùng địa chỉ: I khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
  15. Ông Dương Trọng T7; sinh năm: 1963 (chồng bà Lê Ánh T).
  16. Bà Dương Mỹ L1; sinh năm: 1992 (con bà T).
  17. Ông Trần Đức K2; sinh năm: 1990 (chồng bà Mỹ L1).
    Cùng địa chỉ: G đường số E, Khu dân cư E, Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
  18. Bà Nguyễn Thị Mỹ H3; sinh năm: 1983 (Con ông H).
    Địa chỉ: I Khu V, phường P, quận C.
  19. Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 23/10/2023 của nguyên đơn là bà Lê Ngọc S và quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà, đại diện nguyên đơn cho rằng: Cha của bà Lê Ngọc S là ông Lê Thành C, sinh năm: 1924, chết ngày 14/01/2004. Mẹ là bà Phạm Thị C1, sinh năm: 1924, chết ngày 02/08/2019. Ông C, bà C1 có 09 người con, gồm:

  1. Bà Lê Ngọc T1, sinh năm: 1949; chết năm 2021, không có để lại di chúc. Bà T1 có chồng là ông Huỳnh Văn H2 và 5 người con là: Huỳnh Ngọc T2, Huỳnh Long K, Huỳnh Long A, Huỳnh Long B và Huỳnh Thị Ngọc T3.
  2. Bà Lê Kim Q, sinh năm: 1952
  3. Ông Lê Quang T8; sinh năm:1953; chết năm: 1984, không để lại di chúc, không có vợ con.
  4. Ông Lê Trung H, sinh năm: 1954
  5. Bà Lê Kim T4, sinh năm: 1958
  6. Ông Lê Tuấn K1, sinh năm: 1962
  7. Bà Lê Ánh T, sinh năm: 1964
  8. Bà Lê Ngọc S, sinh năm: 1966
  9. Ông Lê Hoàng V, sinh năm: 1968; chết năm: 2007, không có để lại di chúc. Ông V có vợ là bà Nguyễn Thị Thúy L và 04 người con là: Lê Nguyễn Thiện P, Lê Nguyễn Thiên T5, Lê Nguyễn Băng T6 và Lê Nguyễn Kim P1.

Ông Lê Thành C chết có để lại di chúc và di sản thừa kế của ông C đã được phân chia theo di chúc xong theo “Biên bản phân chia tài sản thừa kế” ngày 26/01/2008, tại Ủy ban nhân dân phường P, quận C.

Bà C1 chết không có để lại di chúc. Bà C1 có để lại di sản như sau:

  1. Căn nhà tại địa chỉ: G đường số E, Khu dân cư E, Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ (gọi tắt là căn nhà G15 Khu dân cư E). Căn nhà này đứng tên của Lê Ngọc T1, hiện do vợ chồng bà Lê Ánh T đang quản lý, sử dụng.
  2. Quyền sử dụng đất nền tái định cư lô 38 đường B, Khu đô thị P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ (gọi tắt là nền tái định cư số 38B2) được nhà nước cấp do hỗ trợ, bồi thường từ căn nhà và quyền sử dụng đất toạ lạc tại số I khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ bị quy hoạch ảnh hưởng tuyến đường V (Q, Cái C cũ).

Bà C1 nhận tiền bồi hoàn căn nhà gốc nên lấy tiền mua lại căn nhà G đường số E, Khu dân cư E. Do bà C1 lớn tuổi nên nhờ con gái là Lê Ngọc T1 đứng tên giùm. Còn nền tái định cư được cấp hiện nay do ông Lê Trung H quản lý.

Nay nguyên đơn yêu cầu: chia thừa kế theo quy định pháp luật di sản thừa kế của bà Phạm Thị C1 để lại gồm căn nhà G15 Khu dân cư 586 và nền tái định cư ố 38B2 thành 08 kỷ phần, nguyên đơn yêu cầu hưởng 01 kỷ phần thừa kế, yêu cầu nhận giá trị.

Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T9 về việc yêu cầu mỗi thừa kế phải thanh toán lại tiền chi phí mai táng cho bà C1 là 3.200.000₫ (Ba triệu hai trăm ngàn đồng) do đám tang của bà C1 có nhận tiền phúng điếu nhưng bà T9 không công khai tiền này; ngoài ra, trước khi bà C1 chết, bà C1 còn để lại nhiều vàng và tiền mặt.

Đối với việc ông Lê Trung H và con của ông H là bà Nguyễn Thị Mỹ H3 có tên trong sổ hộ khẩu thì ông H và bà H3 chỉ nhập hộ khẩu chung với bà C1 nhưng không có sống chung với bà C1 ngày nào, cũng không có tài sản gì trong nhà và quyền sử dụng đất bị giải toả, thu hồi của bà C1. Do đó, nền tái định cư số 38B2 là di sản thừa kế của bà C1, không phải là tài sản chung của hộ, cũng không phải tài sản chung của ông H và bà C1; vì vậy, nguyên đơn không đồng ý với việc ông H yêu cầu hưởng ½ nền tái định cư.

- Theo đơn khởi kiện phản tố của bị đơn là bà Lê Ánh T và quá trình giải quyết vụ án, đại diện của bà Lê Ánh T cho rằng: Thống nhất về thời điểm mở thừa kế của cha mẹ bà Lê Ánh T, hàng thừa kế theo pháp luật của bà Phạm Thị C1 và di sản của bà Phạm Thị C1 để lại như nguyên đơn trình bày là đúng. Bà Lê Ánh T đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với hai di sản nêu trên thành 08 kỷ phần, yêu cầu được nhận 1 suất thừa kế theo giá trị bằng tiền, không đồng ý nhận hiện vật do không có khả năng thối lại tiền cho những người thừa kế khác. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn nhà G15 Khu dân cư 586 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên thì bà T không có giữ bản chính và bà T cũng không biết ai đang giữ bản chính giấy chứng nhận. Ngoài ra, từ tháng 3/2014, vợ chồng bà T về sống chung với bà C1 để chăm sóc cho bà C1. Đến năm 2019, bà C1 chết, bà T đã bỏ ra toàn bộ chi phí ăn uống, bồi bổ, chi phí điều trị khi bà C1 nhập viện; chi phí mai táng, san lắp, xây kim tĩnh, mồ mả, chi phí quản lý di sản sau khi bà C1 chết; tổng cộng: 753.000.000 đồng (B1 trăm năm mươi ba triệu đồng). Nay bà T yêu cầu mỗi suất thừa kế phải có trách nhiệm thanh toán lại cho bà T số tiền 94.125.000 đồng. Bên cạnh đó, bà T yêu cầu chia thừa kế số tiền 317.700.000 đồng (Ba trăm mười bảy triệu bảy trăm ngàn đồng) của bà Phạm Thị C1 được bồi thường do thu hồi một phần diện tích đất 2.695,5m² đất ruộng; 598m² đất vườn (trong đó có 80m2 thổ cư và căn nhà tường diện tích 80m²), thửa 593, 594 tại phường P, quận C, thành phố Cần Thơ do ông Lê Trung H đang giữ. Đây là số tiền ông H nhận tiền bồi thường lần cuối vào năm 2023. Bà Lê Ánh T yêu cầu chia 08 kỷ phần thừa kế, bà T nhận 1 kỷ phần trị giá 39.712.500 đồng (Ba mươi chín triệu bảy trăm mười hai ngàn năm trăm đồng). Ngoài ra, bà T yêu cầu:

Huỷ Quyết định số 3743/QĐ-UBND ngày 24/09/2020 của Ủy ban nhân dân quận C về việc giao đất cho bà Phạm Thị C1 - ông Lê Trung H do bị ảnh hưởng dự án xây dựng mở rộng đường Q - Cái C trên địa bàn quận C, thành phố Cần Thơ đối với thửa đất Lô số 38B2, đường Số B, diện tích 90m² (ODT) toạ lạc tại khu Tái Định Cư P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ và yêu cầu Ủy ban nhân dân quận C ra Quyết định giao đất Lô số 38B2 cho những người thừa kế của bà Phạm Thị C1. Lý do: Bà Phạm Thị C1 là người nhận thừa kế một phần diện tích đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00139 do ông Lê Thành C đứng tên. Ngày 26/01/2008, phần diện tích đất của bà Phạm Thị C1 được bị giải toả, bồi thường diện tích 2.695m² (2L) và 598m² (Q), trong đó có một phần căn nhà tường diện tích 80m² của bà Phạm Thị C1 theo Công văn số 1598/UBND ngày 05/10/2011 của Ủy ban nhân dân quận C. Theo biên bản về việc phân chia tài sản thừa kế ngày 26/01/2008 thì đây là tài sản riêng của bà Phạm Thị C1 nên Ủy ban nhân dân quận C chỉ được ra Quyết định bồi thường và giao đất cho cá nhân bà Phạm Thị C1 mới đúng. Do bà Phạm Thị C1 chết ngày 02/8/2019 nên Quyết định bồi thường và giao nền tái định cư phần tài sản của bà Phạm Thị C1 phải giao cho những người thừa kế của bà Phạm Thị C1 mới đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người thừa kế của bà C1. Ông H và bà H3 là con của ông H có nhà riêng ở bên ngoài, trước nay không có sống chung với bà C1. Bà C1 trước khi sống với bà T là do vợ chồng ông Lê Hoàng V và bà Nguyễn Thị Thúy L nuôi dưỡng; sau đó, ông Lê Tuấn K1 về sống chung với bà được 09 tháng thì ra riêng nên tháng 3/2014, vợ chồng bà Lê Ánh T về ở chung với bà C1, nuôi dưỡng bà C1 đến khi bà C1 chết. Còn ông H và con của ông H chỉ nhập hộ khẩu về chung nhà với bà C1, không có ở chung với bà C1, cũng không có tài sản trên phần đất bị giải toả của bà C1. Do đó, ông H yêu cầu hưởng 50% nền tái định cư số 38B2 thì bà T không đồng ý vì nền này là của bà C1. Ông H cũng đã được cấp nền tái định cư riêng đối với phần đất bị giải toả của ông H. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, phía bị đơn là bà Lê Ánh T rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu các đồng thừa kế phải hoàn trả lại cho bà T tiền chi phí quản lý di sản; chi phí ăn uống, bồi bổ, chăm sóc và điều trị cho bà Phạm Thị C1; chi phí mai táng, san lắp, xây kim tĩnh cho bà C1 và rút phần yêu cầu về việc buộc ông H chia thừa kế số tiền 317.700.000₫ là tiền bồi thường ông H đang giữ. Bà T vẫn giữ nguyên các yêu cầu phản tố khác và yêu cầu các thừa kế khác phải thanh toán lại cho bà T tiền chi phí dịch vụ mai táng trọn gói cho bà C1 theo lời thừa nhận của ông H đã nhận số tiền 31.000.000 đồng để trả tiền dịch vụ mai táng trọn gói, trừ đi số tiền 5.400.000 đồng của nhà nước hỗ trợ chi phí mai táng cho người cao tuổi do ông H đã đưa cho bà T, còn lại là 25.600.000 đồng thì mỗi thừa kế phải thanh toán lại cho bà T 3.200.000 đồng. Yêu cầu chia thừa kế đối theo pháp luật đối với căn nhà G15 và nền tái định cư 38B2 thành 08 phần, bà T nhận giá trị 01 suất thừa kế do bà T không có tiền để thối lại giá trị cho các thừa kế khác. Sau khi chia thừa kế, việc thờ cúng cha mẹ sẽ do các anh chị em của bà T tự thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì bà T sẽ nhận trách nhiệm thờ cúng cha mẹ.

- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Trung H cho rằng: Thống nhất về thời điểm mở thừa kế và hàng thừa kế của mẹ ông Lê Trung H như nguyên đơn nêu là đúng. Tuy nhiên, về di sản thừa kế của bà Phạm Thị C1 để lại, ông H xác định gồm có căn nhà G15 Khu dân cư 586 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên, hiện bà Lê Ánh T đang quản lý. Ông H đồng ý yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật thành 8 kỷ phần và yêu cầu được hưởng 01 phần, yêu cầu nhận giá trị. Đối với nền tái định cư thuộc lô B, đường B, Khu đô thị P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ là do Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ cấp cho hộ bà Phạm Thị C1 và ông Lê Trung H, không phải cấp cho cá nhân bà Phạm Thị C1. Trước đây, ông H có sống chung với bà C1 (nhưng không rõ thời gian nào), khi nhà nước kiểm đếm tài sản bồi thường thì có ông H ký tên nên ông H có ½ quyền sở hữu đối với nền tái định cư này. Vì vậy, đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của ông H, công nhận ½ quyền sở hữu nền tái định của ông H, còn ½ giá trị nền tái định cư còn lại là di sản của bà C1 thì chia thừa kế theo quy định pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận để ông H nhận hiện vật, sau này làm nơi thờ cúng cha mẹ. Trường hợp Toà án không chấp nhận phần sở hữu ½ nền tái định cư của ông H thì ông H yêu cầu nhận giá trị thừa kế theo quy định pháp luật. Ông H không đồng ý yêu cầu phản tố của bà Lê Ánh T yêu cầu ông H thanh toán số tiền mai táng cho bà C1 là 3.200.000 đồng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Kim Q, bà Lê Kim T4, bà Nguyễn Thị Thúy L, bà Lê Nguyễn Thiên T5 và ông Huỳnh Long A trình bày: thống nhất về thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế và di sản thừa kế của bà Phạm Thị C1 để lại gồm có căn nhà số G Khu dân cư E và nền tái định cư 38B2 như nguyên đơn và bà Lê Ánh T trình bày. Nay ông bà đồng ý chia thừa kế theo quy định pháp luật và yêu cầu được nhận giá trị; tuy nhiên, ông, bà không đồng ý yêu cầu phản tố của bà Lê Ánh T yêu cầu thanh toán số tiền chi phí mai táng 3.200.000 đồng do đám tang của bà C1 có nhận tiền phúng điếu nhưng bà T không công khai tiền này; ngoài ra, trước khi bà C1 chết, bà C1 còn để lại nhiều vàng và tiền mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Trọng T7 cho rằng: ông là chồng của bà Lê Ánh T, hiện ông đang sống tại nhà số G Khu dân cư E là di sản của bà C1 để lại. Sau khi về ở tại căn nhà này, vợ chồng ông có sửa chữa thêm phần mái che phía sau nhưng không nhớ rõ chi phí bao nhiêu. Trong vụ kiện này, ông thống nhất như ý kiến và yêu cầu của vợ ông.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 194/2024/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Ngọc S về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Phạm Thị C1 để lại.
    1. Thừa kế theo pháp luật của bà Phạm Thị C1 gồm có 08 đồng thừa kế, cụ thể như sau:
      1. Người thừa kế của bà Lê Ngọc T1 được hưởng phần thừa kế của bà Phạm Thị C1 để lại cho bà Lê Ngọc T1, gồm có: ông Huỳnh Văn H2; Huỳnh Ngọc T2, Huỳnh Long K, Huỳnh Long A, Huỳnh Long B và Huỳnh Thị Ngọc T3.
      2. Bà Lê Kim Q;
      3. Ông Lê Trung H;
      4. Bà Lê Kim T4;
      5. Ông Lê Tuấn K1;
      6. Bà Lê Ánh T;
      7. Bà Lê Ngọc S;
      8. Người thừa kế thế vị của ông Lê Hoàng V được hưởng phần thừa kế của bà Phạm Thị C1 để lại cho thừa kế thế vị của ông Lê Hoàng V gồm: Lê Nguyễn Thiện P, Lê Nguyễn Thiên T5, Lê Nguyễn Băng T6 và Lê Nguyễn Kim P1.
    2. Di sản của bà Phạm Thị C1 để lại được phân chia như sau:
      1. Nhà và quyền sử dụng đất toạ lạc tại số G đường Số E, Khu dân cư E, Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ; thửa đất số 4510, tờ bản đồ số 1, diện tích 80m² (ODT) thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03966 ngày 04/7/2013 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên, hiện do bà Lê Ánh T đang quản lý: được chia làm 09 (Chín) kỷ phần, bà Lê Ánh T được hưởng 02 (Hai) kỷ phần, 07 thừa kế còn lại của bà Phạm Thị C1 mỗi thừa kế hưởng 01 (Một) kỷ phần. Giá trị tài sản và giá trị của mỗi kỷ phần cụ thể được xác định tại thời điểm bán tài sản.

Do các đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 cho rằng không có giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03966 ngày 04/7/2013 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên và hiện tại không biết ai đang giữ bản chính giấy chứng nhận; vì vậy, kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận số CH03966 ngày 04/7/2013 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 đứng tên.

Các thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền thoả thuận giá trị với nhau để mua lại tài sản và thối lại tiền cho các thừa kế khác tương ứng kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng theo giá thị trường tại thời điểm thoả thuận mua lại. Nếu các thừa kế của bà Phạm Thị C1 không thỏa thuận được việc mua lại thì người thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán tài sản, tiền bán tài sản có được tại thời điểm bán tài sản, sau khi trừ đi số tiền phải thực hiện nghĩa vụ cho nhà nước, chi phí bán tài sản thì số tiền còn lại sẽ được chia cho các thừa kế tương ứng với kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng như trên.

  1. 1.2.2 Quyền sử dụng đất nền tái định cư Lô số 38B2, đường Số B, diện tích 90m² (ODT) toạ lạc tại khu Tái Định Cư P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ: được chia thành 08 (Tám) phần, mỗi đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 được hưởng 01 (Một) kỷ phần. Giá trị tài sản và giá trị của mỗi kỷ phần cụ thể được xác định tại thời điểm bán tài sản.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận C thu hồi Quyết định số 3743/QĐ-UBND ngày 24/09/2020 của Ủy ban nhân dân quận C về việc giao đất cho bà Phạm Thị C1 - ông Lê Trung H và ra Quyết định giao đất cho các đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1.

Các thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền thoả thuận với nhau để mua lại tài sản và thối lại tiền cho các thừa kế khác tương ứng kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng theo giá thị trường tại thời điểm thoả thuận mua lại. Nếu các thừa kế của bà Phạm Thị C1 không thỏa thuận được việc mua lại thì người thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán tài sản, tiền bán tài sản tại thời điểm bán được, sau khi trừ đi số tiền phải thực hiện nghĩa vụ cho nhà nước, chi phí bán tài sản, số tiền còn lại sẽ được chia cho các thừa kế tương ứng với kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng như trên.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bị đơn bà Lê Ánh T về việc yêu cầu mỗi đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 phải thanh toán lại cho bà Lê Ánh T số tiền 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm ngàn đồng) là chi phí mai táng trọn gói đám tang của bà Phạm Thị C1.
  2. Đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Lê Ánh T đã rút, về việc yêu cầu mỗi đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 phải thanh toán lại cho bà Lê Ánh T các khoản: tiền chi phí quản lý di sản; chi phí ăn uống, bồi bổ, chăm sóc và điều trị cho bà Phạm Thị C1; chi phí mai táng, san lắp, xây kim tĩnh cho bà Phạm Thị C1 và yêu cầu ông Lê Trung H chia thừa kế số tiền 317.700.000đ là tiền bồi thường quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị C1 do ông H đang giữ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn ông H và bà T có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bên đương sự thống nhất thỏa thuận như sau:

Ông H được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất toạ lạc tại số G đường Số E, Khu dân cư E, Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ; thửa đất số 4510, tờ bản đồ số 1, diện tích 80m² (ODT) thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03966 ngày 04/7/2013 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên, hiện do bà Lê Ánh T đang quản lý.

Ông H có trách nhiệm giao cho những người thừa kế của bà Lê Ngọc T1, bà Lê Kim Q, ông Lê Tuấn K1, bà Lê Ánh T, bà Lê Ngọc S và những người thừa kế của ông Lê Hoàng V mỗi người là 222.222.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Sau khi ông H giao đủ số tiền trên thì ông H được quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Quyền sử dụng đất nền tái định cư Lô số 38B2, đường Số B, diện tích 90m² (ODT) toạ lạc tại khu Tái Định Cư P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ: được chia thành 08 (Tám) phần, mỗi đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 được hưởng 01 (Một) kỷ phần. Giá trị tài sản và giá trị của mỗi kỷ phần cụ thể được xác định tại thời điểm bán tài sản.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận C thu hồi Quyết định số 3743/QĐ-UBND ngày 24/09/2020 của Ủy ban nhân dân quận C về việc giao đất cho bà Phạm Thị C1 - ông Lê Trung H và ra Quyết định giao đất cho các đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1.

Các thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền thoả thuận với nhau để mua lại tài sản và thối lại tiền cho các thừa kế khác tương ứng kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng theo giá thị trường tại thời điểm thoả thuận mua lại. Nếu các thừa kế của bà Phạm Thị C1 không thỏa thuận được việc mua lại thì người thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán tài sản, tiền bán tài sản tại thời điểm bán được, sau khi trừ đi số tiền phải thực hiện nghĩa vụ cho nhà nước, chi phí bán tài sản, số tiền còn lại sẽ được chia cho các thừa kế tương ứng với kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng như trên.

Ông H và bà T vẫn giữ phần kháng cáo về việc xin miễn án phí do ông bà là người cao tuổi.

- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay các đương sự thống nhất thỏa thuận về việc chia di sản thừa kế nên đề nghị hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này. Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng về phần kháng phí và kháng cáo của ông H, bà T về án phí đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận vì các đương sự là người cao tuổi nên được miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Phạm Thị C1 do bà C1 chết không để lại di chúc nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về thừa kế tài sản” là phù hợp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, phía nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:

Thứ nhất: Ông H được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất toạ lạc tại số G đường Số E, Khu dân cư E, Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ; thửa đất số 4510, tờ bản đồ số 1, diện tích 80m² (ODT) thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03966 ngày 04/7/2013 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên, hiện do bà Lê Ánh T đang quản lý.

Ông H có trách nhiệm giao cho những người thừa kế của bà Lê Ngọc T1, bà Lê Kim Q, ông Lê Tuấn K1, bà Lê Ánh T, bà Lê Ngọc S và những người thừa kế của ông Lê Hoàng V mỗi người là 222.222.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Gia đình bà Lê Ánh T có trách nhiệm bàn giao lại căn nhà trên cho ông Lê Trung H sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền hủy giấy chứng nhận số CH03966 ngày 04/7/2013 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Lê Trung H sau khi ông H đã giao đủ số tiền trên cho các hàng thừa kế.

Thứ hai: Quyền sử dụng đất nền tái định cư Lô số 38B2, đường Số B, diện tích 90m² (ODT) toạ lạc tại khu Tái Định Cư P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ: được chia thành 08 (Tám) phần, mỗi đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 được hưởng 01 (Một) kỷ phần. Giá trị tài sản và giá trị của mỗi kỷ phần cụ thể được xác định tại thời điểm bán tài sản.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận C thu hồi Quyết định số 3743/QĐ-UBND ngày 24/09/2020 của Ủy ban nhân dân quận C về việc giao đất cho bà Phạm Thị C1 - ông Lê Trung H và ra Quyết định giao đất cho các đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1.

Các thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền thoả thuận với nhau để mua lại tài sản và thối lại tiền cho các thừa kế khác tương ứng kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng theo giá thị trường tại thời điểm thoả thuận mua lại. Nếu các thừa kế của bà Phạm Thị C1 không thỏa thuận được việc mua lại thì người thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán tài sản, tiền bán tài sản tại thời điểm bán được, sau khi trừ đi số tiền phải thực hiện nghĩa vụ cho nhà nước, chi phí bán tài sản, số tiền còn lại sẽ được chia cho các thừa kế tương ứng với kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng như trên.

Xét thấy, việc các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Việc thỏa thuận các đương sự là đúng pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Việc Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm là việc ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự nên cấp sơ thẩm không có lỗi về phần này.

[3] Xét kháng cáo của Ông H và bà T về việc xin miễn án phí cũng như kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng về phần án phí, Hội đồng xét xử nhận thấy do ông H, bà T, bà Q, bà T4 và ông K1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn nên căn cứ Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí cho các ông bà.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát như đã nêu trên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí phúc thẩm, các bên đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Lê Trung H và bà Lê Ánh T. Sửa một phần bản án sơ thẩm.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Ngọc S về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Phạm Thị C1 để lại.
    1. Thừa kế theo pháp luật của bà Phạm Thị C1 gồm có 08 đồng thừa kế, cụ thể như sau:
      1. Người thừa kế của bà Lê Ngọc T1 được hưởng phần thừa kế của bà Phạm Thị C1 để lại cho bà Lê Ngọc T1, gồm có: ông Huỳnh Văn H2; Huỳnh Ngọc T2, Huỳnh Long K, Huỳnh Long A, Huỳnh Long B và Huỳnh Thị Ngọc T3.
      2. Bà Lê Kim Q;
      3. Ông Lê Trung H;
      4. Bà Lê Kim T4;
      5. Ông Lê Tuấn K1;
      6. Bà Lê Ánh T;
      7. Bà Lê Ngọc S;
      8. Người thừa kế thế vị của ông Lê Hoàng V được hưởng phần thừa kế của bà Phạm Thị C1 để lại cho thừa kế thế vị của ông Lê Hoàng V gồm: Lê Nguyễn Thiện P, Lê Nguyễn Thiên T5, Lê Nguyễn Băng T6 và Lê Nguyễn Kim P1.
    2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về chia di sản của bà Phạm Thị C1 để lại như sau:
      1. Ông Lê Trung H được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất toạ lạc tại số G đường Số E, Khu dân cư E, Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ; thửa đất số 4510, tờ bản đồ số 1, diện tích 80m² (ODT) thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03966 ngày 04/7/2013 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên.

Ông Lê Trung H có trách nhiệm giao cho những người thừa kế của bà Lê Ngọc T1 số tiền 222.222.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Ông Lê Trung H có trách nhiệm giao cho bà Lê Kim Q số tiền 222.222.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Ông Lê Trung H có trách nhiệm giao cho ông Lê Tuấn K1 số tiền 222.222.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Ông Lê Trung H có trách nhiệm giao cho bà Lê Ánh T số tiền 222.222.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Ông Lê Trung H có trách nhiệm giao cho bà Lê Ngọc S số tiền 222.222.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Ông Lê Trung H có trách nhiệm giao cho những người thừa kế của ông Lê Hoàng V số tiền 222.222.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Gia đình bà Lê Ánh T có trách nhiệm bàn giao lại căn nhà trên cho ông Lê Trung H sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền hủy giấy chứng nhận số CH03966 ngày 04/7/2013 do bà Lê Ngọc T1 đứng tên để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Lê Trung H sau khi ông H đã giao đủ số tiền trên cho các hàng thừa kế.

  1. 1.2.2 Quyền sử dụng đất nền tái định cư Lô số 38B2, đường Số B, diện tích 90m² (ODT) toạ lạc tại khu Tái Định Cư P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ: được chia thành 08 (Tám) phần, mỗi đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 được hưởng 01 (Một) kỷ phần. Giá trị tài sản và giá trị của mỗi kỷ phần cụ thể được xác định tại thời điểm bán tài sản.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận C thu hồi Quyết định số 3743/QĐ-UBND ngày 24/09/2020 của Ủy ban nhân dân quận C về việc giao đất cho bà Phạm Thị C1 - ông Lê Trung H và ra Quyết định giao đất cho các đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1.

Các thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền thoả thuận với nhau để mua lại tài sản và thối lại tiền cho các thừa kế khác tương ứng kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng theo giá thị trường tại thời điểm thoả thuận mua lại. Nếu các thừa kế của bà Phạm Thị C1 không thỏa thuận được việc mua lại thì người thừa kế của bà Phạm Thị C1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán tài sản, tiền bán tài sản tại thời điểm bán được, sau khi trừ đi số tiền phải thực hiện nghĩa vụ cho nhà nước, chi phí bán tài sản, số tiền còn lại sẽ được chia cho các thừa kế tương ứng với kỷ phần mỗi thừa kế được hưởng như trên.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bị đơn bà Lê Ánh T về việc yêu cầu mỗi đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 phải thanh toán lại cho bà Lê Ánh T số tiền 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm ngàn đồng) là chi phí mai táng trọn gói đám tang của bà Phạm Thị C1.
  2. Đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Lê Ánh T đã rút, về việc yêu cầu mỗi đồng thừa kế của bà Phạm Thị C1 phải thanh toán lại cho bà Lê Ánh T các khoản: tiền chi phí quản lý di sản; chi phí ăn uống, bồi bổ, chăm sóc và điều trị cho bà Phạm Thị C1; chi phí mai táng, san lắp, xây kim tĩnh cho bà Phạm Thị C1 và yêu cầu ông Lê Trung H chia thừa kế số tiền 317.700.000đ là tiền bồi thường quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị C1 do ông H đang giữ.
  3. Về chi phí thẩm định, định giá: Tổng cộng: 9.000.000đ; mỗi thừa kế mỗi chịu 1.125.000đ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bảyp đồng thừa kế còn lại của bà C1 mỗi thừa kế phải trả lại cho bà Lê Ngọc S tiền chi phí thẩm định, định giá là 1.125.000đ (Một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà T. bà T được nhận lại tiền tạm ứng án phí bà Lê Ánh T đã nộp: 16.472.000đ theo biên lai số 0003142 ngày 19/12/2023; 993.000₫ theo biên lai số 0003295 ngày 11/3/2024 và 300.000đ theo biên lai số 0003548 ngày 20/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng.

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê Kim Q; ông Lê Trung H; bà Lê Kim T4 và ông Lê Tuấn K1.

Những người thừa kế của bà Lê Ngọc T1 phải chịu án phí 24.282.700đ (Hai mươi bốn triệu hai trăm tám mươi hai ngàn bảy trăm đồng).

Những người thừa kế thế vị của ông Lê Hoàng V phải chịu án phí 24.282.700đ (Hai mươi bốn triệu hai trăm tám mươi hai ngàn bảy trăm đồng).

Nguyên đơn là bà Lê Ngọc S được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0003044 ngày 07/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng. Bà Lê Ngọc S còn phải nộp thêm 23.982.700đ án phí.

- Án phí dân sự phúc thẩm: miễn án phí cho bà T và ông H.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND quận Cái Răng;
- VKSND TP. Cần Thơ;
- Chi cục THADS quận Cái Răng;
- Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 298/2025/DS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 298/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger