|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 298/2024/HC-PT
Ngày: 16/4/2024
V/v: Khiếu kiện QĐHC, HVHC về QLNN
trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi GPMB.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
2/ Ông Ngô Đức Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đức, Kiểm sát viên cao
cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hành chính phúc thẩm, thụ lý số 1063/2023/TLPT-HC ngày 19 tháng 12 năm 2023, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi giải phóng mặt bằng”, giữa các bên đương sự:
Người khởi kiện: Ông Lê Ngọc K, sinh năm 1962; Địa chỉ: A Đại lộ L (Cao
Thắng cũ), khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Người
đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nguyễn Hoàng T, Chủ tịch UBND thành phố P;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn C, Phó Chủ tịch UBND thành phố P
(Có văn bản xin xử vắng mặt); Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người
bị kiện: Ông Nguyễn Xuân V, Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành
phố P (Có mặt).
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
- Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P, tỉnh Bình Thuận ; Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn P, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P (Có văn bản xin xử vắng mặt); Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Xuân V, Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P (Có mặt).
- Chi cục Thuế thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Bình Thuận.
- Bà Nguyễn Thị Xuân T1, sinh năm 1962; Địa chỉ: A Đại lộ L (Cao Thắng cũ), khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).
- Bà Lê Thị Ngọc T2, sinh năm 1971;
- Bà Lê Thùy Thanh U, sinh năm 1980;
Cùng địa chỉ: A Đại lộ L (Cao Thắng cũ), khu phố A, phường P, thành phố P,
tỉnh Bình Thuận; Người đại diện theo ủy quyền cho bà T2, bà U: Ông Lê Ngọc K
(Có mặt).
Người kháng cáo: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn và lời khai của người khởi kiện ông Lê Ngọc K trình bày:
Ngày 01/11/2017, UBND phường P mời ông K đến giao Thông báo số 8310/TB-UBND ngày 01/11/2017 của Chủ tịch UBND Thành phố P về việc thu hồi đất đối với hộ ông Lê Ngọc K, diện tích thu hồi 84,1m², thửa số 221 thuộc tờ bản đồ số 47, loại đất ODT để thực hiện thi công Dự án đường L.
Ngày 08/11/2017, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh ban hành giấy mời số 3653/GM-PTQĐ và thông báo số 3661/TB-PTQD về việc kiểm đếm đất đai, tài sản, hướng dẫn kê khai, thu thập giấy tờ và ghi nhận nguyện vọng đất tái định cư (nếu có) của hộ, thuộc dự án nêu trên.
Ngày 06/12/2017, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 3507/QĐ-UBND về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để thực hiện bồi thường về đất đối với dự án.
Ngày 12/12/2017, Trung tâm phát triển quỹ đất ban hành thông báo 4124/PTQĐ-QLĐD về giá đất bồi thường GPMB và giá TĐC.
Ngày 21/5/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 3723/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với ông Lê Ngọc K, bà Nguyễn Thị Xuân T1 (có kèm theo trích lục thửa đất).
Ngày 06/9/2018, ông K có gởi đơn kiến nghị cho Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh về việc chưa nhận tiền đền bù GPMB thi công đường L và đã được Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh nhận đơn theo phiếu số 357/PND ngày 06/9/2018.
Ngày 17/9/2018, UBND tỉnh B ban hành công văn số 3933/UBND-ĐTQH bổ sung phương án tái định cư của dự án đường L nêu trên.
Ngày 23/10/2018, Chi cục thuế thành phố P phát hành Công văn số: 5427/CCT-TTNVDT về việc xác định nghĩa vụ tài chính đối với hộ ông K gửi Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh và Trung tâm chuyển lại cho ông K (kèm công văn số 5427/CCT-TTNVDT ngày 23/10/2010).
Ngày 26/10/2018, ông K tiếp tục kiến nghị Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh về việc chưa nhận tiền đền bù giải phóng mặt bằng, theo giấy mời lần 2 về việc nhận tiền đền bù thuộc dự án đường L (đoạn từ đường L đến đường T) theo giấy mời số 4170/GM-PTQĐ ngày 25/10/2018 và đã được Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh nhận được theo phiếu số 408/PNĐ ngày 26/10/2018.
Ngày 13/12/2018, Trung tâm phát triển quỹ đất phát hành giấy mời (lần 3) số 4903/GM-PTQD về việc nhận tiền bồi thường, hổ trợ dự án xây dựng công trình đường L (đoạn Lê Hồng P1 đến đường T).
Ngày 14/12/2018, ông gửi Đơn kiến nghị cho Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giải tỏa thành phố P và Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh (Đính kèm đơn).
Ngày 19/12/2018, UBND tỉnh B phát hành Thông báo số 481/TB- UBND về việc kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc họp nghe báo cáo tiến độ và giải quyết các vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án đường L và đường từ cầu H đến ĐT 706B, Tp . (Đính kèm thông báo).
Ngày 28/12/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 10337/QĐ- UBND phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ (bổ sung) cho ông K, Dự án xây dựng công trình đường L (đoạn từ Lê Hồng P1 đến đường T), tp ..
Ngày 16/01/2019, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh ban hành Biên bản giao nhận mặt bằng. Nội dung: Thống nhất nhận tiền bồi thường và tháo dỡ nhà, bàn giao xong mặt bằng với diện tích 84,1m², tại thửa số 221, tờ bản đồ số 47 cho (Chủ đầu tư) đơn vị để thi công dự án đường L (đoạn từ đường L đến đường T), tp . kể từ ngày 15/01/2019.
Ngày 24/01/2019, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh phát hành thông báo số 245/PTQĐ-QLQĐ, nội dung:
Hộ ông Lê Ngọc K được bồi thường bằng đất ở và hộ ông đã bốc thăm đất tái định cư tại biên bản họp ngày 23/01/2019, cụ thể: Hộ ông Lê Ngọc K đã bốc thăm lô số 63, dãy L2, thửa đất số 93, Diện tích 100m² đất ở đô thị thuộc quỹ đất Khu tái định cư Đông Xuân A (mặt tiền đường V), phường P, thành phố P; Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại lô số 63, dãy L2, thửa đất số 93, Diện tích 100m² đất ở đô thị thuộc quỹ đất Khu tái định cư Đông Xuân A (mặt tiền Võ Văn K1) phải nộp theo giá đất tại quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 của UBND tỉnh nhân với hệ số K, được xác định tại thời điểm thông báo thu hồi đất số 8310/TB-UBND ngày 01/11/2017 của UBND thành phố P (theo quy định tại Khoản 2, Điều 31, Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh).
Ngày 25/02/2019, UBND tp. P ban hành Quyết định số 966/QĐ-UBND và bản trích lục bản đồ vị trí lô đất về việc giao đất ở cho hộ ông Lê Ngọc K, kèm theo trích lục bản đồ vị trí lô đất ký hiệu L2.63 diện tích 100m² tại Khu tái định cư Đ, phường P, tp .. Nội dung Giao cho các đơn vị tổ chức thực hiện công việc sau đây:
- Phòng TN&MT xác định cụ thể mốc giới và giao đất trên thực địa.
- Chi nhánh VP ĐKĐĐ Phan Thiết: Phối hợp với C1.Phan T3 hướng dẫn cho người giao đất nộp tiền sử dụng đất, phí và lộ phí theo quy định của pháp luật; Trao giấy CNQSDĐ cho người sủ dụng đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định; Chỉnh lý hồ sơ địa chính; Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.
Ngày 26/02/2019, Phòng T, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh phát hành Biên bản giao đất trên thực địa. Nội dung: Giao Lô đất L2.63 diện tích 100m², tờ bản đồ Khu tái định cư Đông Xuân A (mặt tiền đường V), phường P, tp. cho hộ ông Lê Ngọc K, để sử dụng vào mục đích đất ở.
Sau khi nhận đất, ngày 27/02/2019 ông K tiến hành thực hiện các thủ tục tiếp theo là nộp toàn bộ hồ sơ cấp đất cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Chi nhánh VPĐKĐĐ Phan Thiết để được các cơ quan chức năng tính toán thu thuế và cấp giấy CNQSDĐ và đã được bộ phận tiếp nhận và hẹn trả ngày 20/3/2019.
Đến ngày 20/3/2019, ông K đến bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thì cơ quan này nói đang trở ngại các chính sách về thuế.
Ngày 16/7/2019, do cần xây dựng chỗ ở nên ông làm cam kết tạm nộp tiền sử dụng đất.
Ngày 26/7/2019, ông nhận thông báo nộp thuế số LTB1971501-TK0022433/TB-CCT và số LTB1971501-TK0022434/TB-CCT của Chi cục thuế tp. P số tiền 1.878.200.000đồng, bao gồm tiền sử dụng đất và trước bạ, ông vay tiền và nộp xong vào ngày 09/8/2019.
Ngày 15/02/2022, ông nhận được Quyết định số 4014/QĐ-UBND ngày 14/8/2020 của UBND thành phố P về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 966/QĐ-UBND ngày 25/02/2019 của UBND thành phố P về việc giao đất ở cho hộ ông Lê Ngọc K. Lý do: Thực hiện theo kết luận của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố tại biên bản số 56/HĐBT14T&TĐC-ĐLD ngày 22/10/2019 (kèm theo Quyết, định thu hồi và biên bản giao Quyết định số 4014/QĐ-UBND ngày 14/8/2020 của UBND thành phố P).
Ông đã gửi nhiều đơn khiếu nại nhưng Chủ tịch UBND tp . không giải quyết khiếu nại. Do đó, nay ông làm đơn khởi kiện yêu cầu: Hủy Quyết định số 4014/QĐ-UBND ngày 14/8/2020 của UBND thành phố P; Yêu cầu hủy Quyết định số 3737/QĐ-UBND ngày 21/5/2018 của UBND tp ..
Theo văn bản và lời khai của phía người bị kiện UBND thành phố P trình bày:
Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố kết luận: Hộ ông Lê Ngọc K có diện tích đất thu hồi là 84,1m² đất ở, diện tích còn lại là 132,4m² đất ở, diện tích còn lại đủ điều kiện để ở nên đủ điều kiện bồi thường về đất bằng tiền, nhưng không đủ điều kiện giải quyết đất tái định cư là đúng quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và Điều 31 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND.
Tuy nhiên, tại cuộc họp vào ngày 27/12/2018 (Biên bản số 122/TBHDBTHT&TDC ngày 28/12/2018), Hội đồng kết luận: Căn cứ vào hồ sơ, Hội đồng Bồi thường thống nhất do gia đình ông Lê Ngọc K thuộc diện có công Cách mạng, bản thân ông K từng phục vụ trong quân đội 30 năm, bà nội ông là Mẹ Việt Nam Anh hùng, diện tích đất ở bị thu hồi 80,1m² tương đối lớn. Xét thấy, gia đình có công cách mạng, thờ cứng Mẹ Việt Nam Anh hùng, Hội đồng thống nhất: Đủ điều kiện bồi thường bằng đất ở theo quy định tại vị trí quỹ đất tái định cư theo Điều 74, 75, điểm a khoản 1 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 4, 5 Quyết định 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B.
UBND thành phố P ban hành Quyết định phê duyệt kinh phí với tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông K là 1.905.461.754đồng (trong đó, bồi thường về đất số tiền là 1.255.968.000đồng), đồng thời bồi thường 01 lô đất ở khu T (mặt tiền đường V).
Ngày 25/02/2019, UBND thành phố P ban hành Quyết định 966/QĐ-UBND về việc giao đất ở cho hộ ông Lê Ngọc K tại lô số L2.63, diện tích 100m², thuộc Khu tái định cư Đ (mặt tiền đường V), phường P.
Kết quả kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với dự án đường L, đã báo cáo kết luận như sau: Hộ ông Lê Ngọc K được giải quyết đồng thời 02 chính sách (vừa bồi thường bằng tiền vừa bồi thường bằng đất ở) là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP. Mặt khác, quỹ đất bố trí để tái định cư khi thực hiện dự án đường L của địa phương không đủ điều kiện về quỹ đất (như đã nêu ở phần I của Báo cáo) để thực hiện bồi thường về đất. Do đó, việc Hội đồng thống nhất giải quyết bồi thường bằng 01 lô đất ở cho hộ ông K là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 74 và điểm b khoản 1 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013.
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố đã họp để xem xét lại kết luận trước đây và kết luận tại Biên bản họp số 56/HĐBTHT&TĐC-ĐLD ngày 22/10/2019, như sau: Do ông K đã nhận tiền bồi thường về đất, nên thu hồi lại lô đất được bồi thường bằng đất ở tại mặt tiền Võ Văn K1 của hộ ông K.
Căn cứ kết luận của Hội đồng BT, HT, GPMB, TĐC, UBNĐ thành phố P đã ban hành Quyết định số 4014/QĐ-UBND ngày 14/8/2020 về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định 966/QĐ-UBND ngày 25/2/2019 của UBND thành phố P về việc giao đất ở cho hộ ông Lê Ngọc K.
Ngày 18/02/2022, UBND thành phố P đã tổ chức mời ông Lê Ngọc K làm việc bàn giao Quyết định thu hồi, huy bỏ Quyết định giao đất nêu trên là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án không chấp nhận khởi kiện của ông K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng Tài nguyên và Môi trường
thành phố P: Thống nhất với trình bày của UBND thành phố P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi Cục thuế thành phố P: Không có
ý kiến gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung tâm P2 triễn quỹ đất tỉnh Bình
Thuận: Không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Xuân T1: Thống nhất
với trình bày của ông Lê Ngọc K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc T2: Hộ gia đình tôi
có sổ hộ khẩu riêng và cùng sinh sống trên diện tích 184,1m² đất ở đô thị cùng với
hộ ông Lê Ngọc K và hộ bà Lê Thùy Thanh U. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của ông Lê Ngọc K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thùy Thanh U: Thống nhất với
trình bày của ông Lê Ngọc K.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 111/2023/HC-ST ngày 23/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc K.
Hủy Quyết định số 4014/QĐ-UBND ngày 14/8/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố P, về việc thu hồi Quyết định 966/QĐ-UBND ngày 25/02/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố P.
Hủy Văn bản số 2897/TB-PTNMT ngày 15/8/2019 của Phòng T.
Hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố P không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với lô đất số 63, dãy L2, thửa đất số 93, diện tích 100m² đất ở đô thị thuộc quỹ đất Khu tái định cư Đ, theo quyết định 966/QĐ-UBND ngày 25/02/2019 của UBND thành phố P, cho hộ ông Lê Ngọc K là hành vi hành chính trái pháp luật.
Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P chấm dứt hành vi trái pháp luật nêu trên và thực hiện nhiệm vụ công vụ trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với lô đất số 63, dãy L2, thửa đất số 93, diện tích 100m² đất ở đô thị thuộc quỹ đất Khu tái định cư Đ, theo quyết định 966/QĐ-UBND ngày 25/02/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố P theo đúng quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc K về việc đòi hủy Quyết định số 3737/QĐ-UBND ngày 21/5/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Lê Ngọc K, bà Nguyễn Thị Xuân T1, dự án xây dựng công trình đường L (đoạn từ đường L đến đường T), thành phố P và đòi hủy Quyết định số 10337/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ (bổ sung) cho ông Lê Ngọc K, bà Nguyen Thị Xuân T4, dự án xây dựng công trình đường L (đoạn từ đường L đến đường T), thành phố P và yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố P tính toán lại khoản chênh lệch hạ tầng giữa diện tích đất ở được bồi thường so với vị trí đất ở bị thu hồi.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/11/2023 Ủy ban nhân dân thành phố P làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, đề nghị phúc xử bác đơn khởi kiện của ông K.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phía người bị kiện thì vắng mặt, có người bảo vệ quyền lợi cho rằng, quá trình giải quyết đối với việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ ông K thì việc vừa được bồi thường, hỗ trợ vừa được tái định cư là chưa đúng quy định pháp luật. Vì vậy, phía người bị kiện đề nghị sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía ông K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã được thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy định. Về nội dung: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận làm trong hạn luật định nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
[2.1] Hộ của ông K bị thu hồi với diện tích 84,1m² được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/12/2019, Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 966/QĐ-UBND cho ông K được tái định cư diện tích 100m² với hình thức là đóng tiền quyền sử dụng đất.
Đến ngày 14/8/2020 thì Ủy ban nhân dân thành phố P lại ban hành Quyết định số 4014/QĐ-UBND thu hồi Quyết định số 966/QĐ-UBND với lý do phía ông K vừa được bồi thường, hỗ trợ lại vừa được tái định cư là không đúng với quy định của pháp luật.
Ông K không đồng ý, nên các bên đương sự đã phát sinh tranh chấp.
[2.2] Xét thấy:
[2.2.1] Hộ ông Lê Ngọc K có ba hộ gia đình gồm: Hộ ông Lê Ngọc K, hộ bà Lê Thị Ngọc T2 và hộ bà Lê Thùy Thanh U, cùng sống trên diện tích 184,1m² đất ở đô thị tọa lạc tại số A đường C, nhà đất này còn là nơi hộ gia đình ông K sử dụng làm văn phòng kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5.
Hộ ông K thuộc diện gia đình có công cách mạng, bản thân ông từng phục vụ quân đội 30 năm, nhà đất của ông còn là nơi thờ cúng cha mẹ là Bà mẹ Việt Nam anh hùng là bà Đỗ Thị M.
Mặt khác, diện tích thu hồi đất nêu trên đã dẫn đến thu hẹp các phần diện tích đất ở, nhà ở, làm khó khăn cho sinh hoạt cũng như kinh doanh của ba hộ trong gia đình ông K.
[2.2.2] Hội đồng thẩm định bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư đã xét về tính pháp lý, nguồn gốc đất, tài sản trên đất và nhu cầu tái định cư của hộ dân bị thu hồi đất để thực hiện dự án đường L kết luận: Hộ ông K đủ điều kiện bồi thường bằng đất ở vị trí quỹ đất tái định cư theo quy định của pháp luật tại Điều 74, Điều 75, Điều 79 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh B, đồng thời giao Trung tâm Phát triển quỹ đất tính toán tiền đối với diện tích đất 84,1m² đất ở để có cơ sở tính toán tiền chênh lệch hạ tầng giữa diện tích đất ở được bồi thường với diện tích đất ở bị thu hồi để yêu cầu hộ ông K hoặc nộp hoặc nhận bổ sung nếu có như đã nêu trên là đúng quy định pháp luật.
Quyết định số 966/QĐ-UBND ngày 25/02/2019, Ủy ban nhân dân thành phố P có việc phân lô diện tích 100m² đất ở đô thị, quỹ đất khu tái định cư Đông Xuân A cho hộ ông K là thuộc trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Ngày 09/8/2019, ông Lê Ngọc K đã nộp số tiền vào ngân sách nhà nước là 1.887.200.000đồng theo thông báo nộp tiền ngày 26/7/2019 của Chi cục thuế P. Trong khi đó, số tiền bồi thường đất diện tích 84,1m² vuông của hộ ông K là một 1.139.723.200đồng. Số tiền chênh lệch giữa đất ở để bố trí tái định cư có thu tiền sử dụng đất so với số tiền được bồi thường về đất thì hộ ông K phải nộp thêm vào cho Nhà nước là 738.476.800đồng.
Như vậy, thực chất của việc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 966/QĐ-UBND ngày 25/02/2019 là giao lô đất có diện tích 100m² nêu trên để tái định cư có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất được pháp luật quy định tại Điều 3, Điều 17, Điều 79 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, Nghị định số 45/2015/NĐ-CP của Chính phủ cũng như là Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh B.
Ngoài ra, nội dung giao đất tái định cư là giao đất có thu tiền sử dụng đất theo diện hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống một thửa đất ở bị thu hồi đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về Luật Cư trú và có chung quyền sử dụng một thửa đất ở thu hồi theo quy định tại khoản 4 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013, Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Điều 11 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND Ủy ban nhân dân B.
Do đó, việc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 4014/QĐ-UBND hủy bỏ, thu hồi Quyết định số 966/QĐ-UBND về việc giao đất ở cho ông K tái định cư là không có căn cứ.
[2.2.3] Tòa án cấp sơ thẩm đã hủy Quyết định số 4014/QĐ-UBND và buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện hành vi hành chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 100m² đất ở tái định cư là phù hợp với quy định pháp luật, đồng thời cũng đã hủy văn bản số 2897 ngày 15/8/2019 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P về việc tạm ngưng giải quyết hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Lê Ngọc K theo giấy hẹn và trả kết quả số 323 ngày 27/02/2019 là có căn cứ, hợp pháp.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía Ủy ban nhân dân thành phố P kháng cáo, nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Người bị kiện kháng cáo không được chấp nhận, nên phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo luật định.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ Điều 241 Luật tố tụng Hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng các Điều 3, Điều 6, Điều 32, Điều 115, Điều 116, Điều 193 Luật tố tụng Hành chính; Các Điều Điều 3, Điều 17, Điều 55, Điều 59, Điều 79, Điều 114 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013; Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc K.
- Hủy Quyết định số 4014/QĐ-UBND ngày 14/8/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố P, về việc thu hồi Quyết định 966/QĐ-UBND ngày 25/02/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố P.
- Hủy Văn bản số 2897/TB-PTNMT ngày 15/8/2019 của Phòng T.
- Hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố P không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với lô đất số 63, dãy L2, thửa đất số 93, diện tích 100m² đất ở đô thị thuộc quỹ đất Khu tái định cư Đ, theo quyết định 966/QĐ-UBND ngày 25/02/2019 của UBND thành phố P, cho hộ ông Lê Ngọc K là hành vi hành chính trái pháp luật.
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P chấm dứt hành vi trái pháp luật nêu trên và thực hiện nhiệm vụ công vụ trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với lô đất số 63, dãy L2, thửa đất số 93, diện tích 100m² đất ở đô thị thuộc quỹ đất Khu tái định cư Đ, theo quyết định 966/QĐ-UBND ngày 25/02/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố P theo đúng quy dịnh của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc K về việc đòi hủy Quyết định số 3737/QĐ-UBND ngày 21/5/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Lê Ngọc K, bà Nguyễn Thị Xuân T1, dự án xây dựng công trình đường L (đoạn từ đường L đến đường T), thành phố P và đòi hủy Quyết định số 10337/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ (bổ sung) cho ông Lê Ngọc K, bà Nguyễn Thị Xuân T1, dự án xây dựng công trình đường L (đoạn từ đường L đến đường T), thành phố P và yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố P tính toán lại khoản chênh lệch hạ tầng giữa diện tích đất ở được bồi thường so với vị trí đất ở bị thu hồi.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận nộp số tiền 300.000đồng, được khấu trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0000023 ngày 22/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Như vậy, UBND thành phố P đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 298/2024/HC-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện qđhc, hvhc về qlnn trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi gpmb
- Số bản án: 298/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện QĐHC, HVHC về QLNN trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi GPMB
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
