Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 298/2024/DS-PT

Ngày: 11- 12- 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Keo

Các thẩm phán: Ông Trương Văn Hai, ông Nguyễn Hoàng Thám

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Loan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Ông Dương Quy Thái- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 307/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án sơ thẩm số: 247/2024/DS- ST, ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 328/2024/QĐXXPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Đồng nguyên đơn:
    1. Bà Đặng Thị Ngọc L, sinh năm 1960. vắng mặt

      Nơi cư trú: số A, tổ B, hẻm I, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang.

      - Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn L1 (chồng bà L, chết ngày 01/01/2014), gồm:

    2. Chị Ngô Thị C, sinh năm 1979. Có mặt
    3. Chị Ngô Thị H, sinh năm 1981 vắng mặt

      Cùng cư trú: số A, tổ B, hẻm I, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang.

    4. Chị Ngô Thị N, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt)

      Nơi cư trú: tổ E, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

    5. Chị Ngô Thị Bích T, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)

      Nơi cư trú: số H, ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà L, chị C, chị H là: ông Nguyễn Thái H1, sinh năm 1978 (theo giấy ủy quyền số công chứng 7747 ngày 25/11/2024). Nơi cư trú: B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Địa chỉ liên lạc: số 77/28/31, đường số I, B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt

  1. Bị đơn:
    1. Anh Phạm Trung N1, sinh năm 1973. vắng mặt
    2. Chị Ngô Thị L2, sinh năm 1978. vắng mặt

      Cùng cư trú: tổ B, hẻm I, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Bùi Trần Phú T1, sinh năm 1976; nơi cư trú: G, đường C, thị trấn P, huyện P, An Giang (Giấy ủy quyền ngày 11/11/2024). Có mặt

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Trương Văn G, sinh năm 1984 (chồng chị Ngô Thị H) vắng mặt
    2. Cháu Trương Chí T2, sinh năm 2017 do anh Trương Văn G là người đại diện. vắng mặt

      Cùng cư trú: số A, tổ B, hẻm I, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang.

  2. Người kháng cáo: anh Phạm Trung N1, chị Ngô Thị L2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản hòa giải, ông Lê Hữu Đ đại diện cho nguyên đơn trình bày: ông Ngô Văn L1 (đã chết 01/01/2014) và bà Đặng Thị Ngọc L là vợ chồng, ông bà có 04 người con chung: chị Ngô Thị C, chị Ngô Thị H, chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị Bích T.

Ngày 25/01/2004, ông Ngô Văn L1 và bà Đặng Thị Ngọc L có mua diện tích đất ngang khoản 4m, dài khoản 16,5m của bà Ngô Thị M, sinh năm 1953 (là chị ruột của ông L1), giá 7.000.000đ. Nguồn gốc đất của ông Ngô Văn T3 và bà Phạm Thị H2; ông T3 (đã chết năm 1980) nên bà H2 cùng các con: ông Ngô Văn L3, bà Ngô Thị D, bà Ngô Thị M, ông Ngô Văn L1 và ông Ngô Văn Đ1 thỏa thuận phân chia tài sản chung là đất cho bà D, bà M mỗi người 01 nền nhà ngang khoảng 4m, dài khoảng 16,5m; riêng con trai thì diện tích lớn hơn, thời điểm này đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi phân chia xong, bà M có chồng ở xa không có nhu cầu sử dụng nên cùng ngày 25/01/2004 thoả thuận bán lại cho vợ chồng ông L1 – bà L, các bên lập hợp đồng viết tay do ông Ngô Văn L3 viết, có đầy đủ chữ ký tên của bà Phạm Thị H2, ông Ngô Văn L3, bà Ngô Thị D, ông Ngô Văn L1, ông Ngô Văn Đ1, bà Ngô Thị M. Sau đó, ông Ngô Văn L1 đem đến Trưởng ấp T (nay là khóm T), thị trấn P, huyện P khi đó là ông Nguyễn Văn N2 nhờ ký tên xác nhận. Khi làm giấy tờ mua bán trên đất có căn nhà lá của chị Ngô Thị Y (Ngô Thị Y1) là con ruột ông L3 sinh sống và ông L3 yêu cầu di dời nhà trả phần đất này để bà M bán và giao đất.

Sau khi chị Y di dời căn nhà đi nơi khác, ông L1 bà L nhận đất, trồng các loại cây như xoài, chuối trên đất. Đến năm 2014, thì ông L1 chết và được chôn trên phần đất này (xây và làm mộ xi măng). Đến năm 2019, gia đình có xây thêm căn nhà bếp và mái che bao trùm ngôi mộ của ông L1, phần đất còn lại chị H, anh G cũng xây dựng căn nhà cấp IV sử dụng cho đến nay. Gia đình bà L có đến UBND thị trấn P để làm thủ tục kê khai thì toàn bộ diện tích trên (có căn nhà bếp, ngôi mộ của ông L1, 01 phần nhà chị H, anh G) đã được UBND huyện P cấp cho chị Ngô Thị L2 và anh Phạm Trung N1 ngày 30/01/2013; bên nguyên đơn có trao đổi thì chị L2 và anh N1 cam kết sẽ điều chỉnh sang tên, do đất đang thế chấp ngân hàng, nhưng khi hết hạn nhận giấy ra chị L2 anh N1 không đồng ý giao giấy để điều chỉnh.

Ngoài ra, khi ông L1 chết chị L2 cũng đến dự đám tang chia buồn, phụ tiếp lo mai táng, chôn cất; khi xây dựng nhà bếp và nhà của chị H anh G phía chị L2, anh N1 không có ngăn cản hay phản đối, mặt dù nhà chị L2 ở liền vách với nhà ông L1 bà L.

Nay, đại diện cho các nguyên đơn yêu cầu Toà án chấp nhận cho gia đình bà L và các con được quyền sử dụng diện tích đất 79,5m² đã cấp cho chị L2 và anh N1, tại W.Document.8 "G:\My Drive\Loan\TP Keo\DSPT\Lợi - N1, Loan\BAPT Lợi - L2 - PTan gửi em L2.doc" OLE_LINK1 \a \r \* MERGEFORMAT thửa đất số 26,bản đồ số 23, đất tọa lạc tại khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, yêu cầu chị L2 anh N1 làm thủ tục sang tên lại cho gia đình bà L và các con của bà L, ông L1.

Chị Ngô Thị C thống nhất ý kiến trình bày của đại diện nguyên đơn;

Bị đơn chị Ngô Thị L2 và anh Phạm Trung N1 thống nhất trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha chị ông Ngô Văn L3, được thừa hưởng từ bà nội là bà Phạm Thị H2. Năm 1998, ông L3 cho con tên Ngô Thị Y (Ngô Thị Y1) làm căn nhà lá để sinh sống. Đến năm 2000, ông L3, bà T6 đi kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất và được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H00998bC ngày 04/3/2005. Năm 2006, ông Ngô Văn L3 chết nên bà T6 làm các thủ tục thừa kế và được đứng tên đất và bà đã tặng cho diện tích đất 79,5m², tọa lạc tại khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang cho vợ chồng chị. Ngày 30/01/2013, UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00098 cho Ngô Thị L2, Phạm Trung N1. Sau khi được cấp giấy, gia đình chị cũng chưa sử dụng diện tích đất, chỉ để đó vì chưa có mục đích sử dụng, đối với phần mộ ông L1 chôn trên đất thì chị có biết nhưng thời điểm đó chưa có ranh đất cụ thể nên không có ngăn cản.

Còn việc giữa gia đình ông L1, bà L mua đất của bà M chỗ nào chị không biết, nhưng nguồn gốc đất đang tranh chấp là của cha mẹ chị chứ không phải của bà M và hiện nay vợ chồng chị đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH00098 ngày 30/01/2013 nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn G vừa đại diện cho con Trương Chí T2 có ý kiến trình bày: anh là chồng của Ngô Thị H, hiện có căn nhà của vợ chồng anh nằm trên phần đất tranh chấp, mà đất này trước đây do cha mẹ vợ (ông L1, bà L) mua của cô ruột là bà M, nay anh thống nhất như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thống nhất như ý kiến của vợ anh là chị H. Ngoài ra, các đương sự không còn ý kiến nào khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 247/2024/DS-ST, ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã xử:

- Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 157; khoản 6 Điều 165; Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 26, Điều 27 và Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Bà Đặng Thị Ngọc L, chị Ngô Thị C, chị Ngô Thị H, chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị Bích T được quyền sử dụng diện tích đất 79,5m², tại thửa số 26, tờ bản đồ số 23, tại các điểm M1, M2, M3, M4 theo sơ đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện P lập ngày 20/02/2024; bà L, chị C, chị H, chị N và chị T phải đến cơ quan có thẩm quyền kê khai lại diện tích đất nói trên.

Chị Ngô Thị L2 và anh Phạm Trung N1 phải nộp lại cho cơ quan có thẩm quyền giấy chứng nhận QSD đất số CH00098 ngày 30/01/2013, do chị L2 và anh N1 đứng tên.

Bản án còn tuyên quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Ngày 16/9/2024, chị Ngô Thị L2, anh Phạm Trung N1 kháng cáo: không đồng ý bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Người đại điện của bị đơn phát biểu tranh luận: Nguyên đơn biết bên bị đơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì ông L1, bà L cũng đã chuyển nhượng phần đất giáp ranh, là đất ao. Đất này bà L2, ông N1 được mẹ tặng cho năm 2013, năm 2014 mới phát sinh chôn chất mỗ mả của ông L1, vì nghĩ là người thân nên không phản đối. Năm 2019, bà L2, ông T4 đi ghe nên không biết việc bà H, ông G làm nhà trên phần đất của mình.

Bên bị đơn xác định không phải chữ viết, chữ ký của ông Ngô Văn L3 trong giấy “Đồng ý sang nhượng đất ngày 25/01/2004”, vì năm 2002, ông L3 đã kê khai đại trà và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về phạm vi khởi kiện, đất tranh chấp ngang 4 dài 16,5m² nhưng cấp sơ thẩm giải quyết 75,9m² là vượt quá phạm vi khởi kiện. Các đương sự không yêu cầu về giải quyết về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà T6 với bà L2, ông N1, không yêu cầu gì về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà ông L3, bà T6. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ án sơ thẩm.

Đại diện nguyên đơn phát biểu tranh luận: Nguồn gốc đất là của cụ Ngô Văn T3, cụ Phạm Thị H2; sau khi cụ T3 mất thì cụ H2 và tất cả các con đã thỏa thuận phân chia tài sản, theo đó bà M là con cũng được chia đất và bà M đã bán diện tích đất được chia cho em của mình là ông Ngô Văn L1 được thể hiện tại tờ “Đồng ý sang nhượng đất ngày 25/01/2004” được cụ H2, các anh chị em và có cả ông L3 ký tên nên tờ “Đồng ý sang nhượng đất ngày 25/01/2004” là chứng cứ. Hiện trên đất có ngôi mộ của ông L1 có mái che khu mộ, có nhà cấp IV của chị H, anh G là con ông L1, bà L. Ngoài ra, bên nguyên đơn còn trồng xoài, chuối nhưng bên chị L2, ông N1 từ khi được cấp giấy không biết đất, không có bất cứ phản đối nào. Hơn nữa, đất của ông L1 nhiều sao không chôn Lẫm chỗ đất khác, ngay sau khi ký tên bán diện tích đất từ bà M thì chị Ngô Thị Y1 (Yềm) đã di dời nhà để giao đất cho bên ông L1, bà L đúng như nội dung của tờ nhượng đất.

Về giám định chữ ký, tại cấp sơ thẩm thì chị L2, anh N1 không ai nại ra không phải chữ ký của ông L3 trong tờ Đồng ý sang nhượng đất ngày 25/01/2004, nay yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết nhưng ông Đ1, ông N2 đều xác nhận chính họ có ký tên đã ký tên tại tờ Đồng ý sang nhượng đất ngày 25/01/2004 nên không cần phải giám định. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc chấp hành pháp luật của đương sự, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn yêu cầu giám định chữ ký của ông Ngô Văn L3 tại tờ Đồng ý sang nhượng đất ngày 25/01/2004 thì theo quyết định của Hội đồng xét xử.

Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tại cấp phúc, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Tuy nhiên, tuyên buộc giao lại giấy là chưa bảm đảm thi hành án nên đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho chị L2, anh N1 để cấp lại cho nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Anh Phạm Trung N1, chị Ngô Thị L2 kháng cáo trong hạn và có nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo phúc thẩm theo quy định của luật nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm. Nguyên đơn không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị đối với bản án sơ thẩm.

[2] Bên nguyên đơn uỷ quyền cho ông Nguyễn Thái H1 được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm.

[3] Về phạm vi khởi kiện: quá trình tố tụng và tại các phiên tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, các đương sự đã được tiếp cận Sơ đồ hiện trạng khu đất lập ngày 20/02/2024 thì diện tích đất 79,5m² tranh chấp đã được Toà cấp sơ thẩm hoà giải, công khai chứng cứ và các bên xác định diện tích 79,5m² là diện tích đất tranh chấp nên căn cứ Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự thì cấp sơ thẩm giải quyết không vượt quá phạm vi khởi kiện.

[4] Tư cách tố tụng của chị Ngô Thị C, chị Ngô Thị H, chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị Bích T được cấp sơ thẩm xác định là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn L1 là chưa phù hợp nhưng không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ tố tụng trong vụ án.

[5] Nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[5.1] Nguồn gốc đất là của cụ ông Ngô Văn T3 (chết 1980), cụ bà Phạm Thị H2. Ngày 25/01/2004, cụ H2 cùng với 05 người con chung của 02 cụ đã thoả thuận phân chia tài sản chung và đồng ý chia cho bà Ngô Thị M hưởng diện tích đất ngang 4 dài khoảng 16m, đo đạc thực tế 79,5m² để bà M chuyển nhượng lại cho người em ruột là ông Ngô Văn L1. Việc chuyển nhượng lập thành văn bản có yêu cầu Trưởng ấp T, thị trấn P, huyện P xác nhận. Cụ H2 và tất cả 05 người con: con thứ hai: Ngô Văn L3, con thứ ba Ngô Thị D, con thứ tư: Ngô Thị M (người chuyển nhượng đất) người thứ năm Ngô Văn L1 (người nhận chuyển nhượng đất), con thứ sáu: Ngô Văn Đ1 cùng ký và viết tên “Đồng ý sang nhượng đất” ngày 25/01/2004 và được trưởng ấp T, thị trấn P xác nhận. Như vậy, có căn cứ xác nhận bà M được hưởng và bà đã chuyển nhượng diện tích được hưởng ngang 4m dài 16,5m cho vợ chồng ông L1 và bà M nhận đủ tiền 7.000.000đ.

[5.2] Tại phiên toà phúc thẩm, bên đại diện bị đơn cho rằng ông Ngô Văn L3 không ký tên vào tờ “Đồng ý sang nhượng đất” ngày 25/01/2004. Tuy nhiên, trong tờ Đồng ý sang nhượng đất ngày 25/01/2004 cụ H2 và các con đều xác định đất là là của cụ T3, cụ H2 và cụ H2 và các anh em đều có chữ ký tên và chữ viết họ tên; trưởng ấp T thời điểm đó là ông Nguyễn Văn N2 cũng đã xác định ông có ký tên vào Tờ Đồng ý sang nhượng đất ngày 25/01/2004; ông Ngô Văn L1, bà Ngô Thị M đều xác nhận chính ông L3 đem Tờ sang nhượng đất cho ông T5 ấp C xác nhận nên có căn cứ xác định có việc sang nhượng thửa đất cho ông L1, nên ông L1 đã xác lập quyền về tài sản đối với diện tích đất trên, nên không cần thiết phải giám định chữ ký của ông L3.

[5.3] Trong tờ Đồng ý sang nhượng đất ngày 25/01/2004, có nội dung ông L3 yêu cầu con ruột của mình là chị Ngô Thị Y1 di dời nhà giao đất, sự kiện này phù hợp với diễn biến thực tế của sự việc và chính chị Y1 có lời trình bày chị đã di dời nhà sau năm 2004. Như vậy, ông L1 đã nhận đất và giao đủ tiền. Năm 2018, ông L1 chết đã được chôn ông trên diện tích này. Hiện tại trên diện tích đất 79,5m² còn có nhà cấp IV của bà Ngô Thị H là con ruột của ông L1, bà L. Ngoài ra, trên đất còn có mái che khu mộ, xoài, chuối do bên bà L, chị H trồng mà không có bất cứ vật kiến trúc, hay cây trồng của bên phía bị đơn.

[5.4] Theo hồ sơ cấp đất, ông L3, bà T6 đã có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 30/12/2002 đối với diện tích đất 79,5m² có nguồn gốc của cụ T3 cho nhưng trong hồ sơ không có văn bản tặng cho này, ngày kê khai sau ngày cụ T3 chết và bị đơn cũng không cung cấp văn bản nào thể hiện sự đồng ý của các thừa kế của ông T3 cho ông L3 đứng tên đất. Mặc dù, ngày 25/02/2005 ông L3, bà T6 được cấp giấy chứng nhận nhưng trên khu đất không có nhà, hay vật kiến trúc của gia đình ông L3, bà T6. Vả lại, trước đó ngày 25/01/2004, cụ H2, ông L3 và các anh em của ông L3 đã xác định nguồn gốc đất của cụ T3 để lại và cùng ký tên sang nhượng đất cho ông L1, và chị L2 cũng xác nhận đất này có nguồn gốc của ông nội nên có căn cứ xác định nguồn gốc đất là của cụ T3, cụ H2.

[5.5] Xét thấy: tại thời điểm giao dịch đất ngày 25/01/2004, đất chưa được cấp giấy chứng nhận, nhưng các bên tự nguyện chuyển nhượng, không ai bị ép buộc, bên nhận chuyển nhượng đã nhận đất, lập mộ, xây nhà cấp IV, trồng cây và hiện diện tích đất trên là đối tượng của giao dịch đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: sơ ri: 100548, số vào sổ: H0098bC do UBND huyện P cấp ngày 04/3/2005 cho ông Ngô Văn L3, bà Trần Thị T6. Ông L3 chết ngày 2010, vợ ông L3 là bà Trần Thị Tó đã thực hiện các thủ tục theo quy định và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P chỉnh lý biến động ngày 19/4/2010 sang cho bà T6 đứng tên trọn thửa 26, diện tích 79,5m² là đủ điều kiện để thực hiện thủ tục chuyển giao quyền về tài sản, xác định quyền sử dụng đất cho bên nguyên đơn phù hợp theo điểm b mục 2.3 Nghị quyết 02/2004/HĐTPTATC ngày 20/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

[5.6] Quá trình quản lý, sử dụng đất: Bên nguyên đơn bà L, ông L1 đã quản lý, sử dụng kể từ ngày nhận chuyển nhượng đến nay, xác thực thể hiện có ngôi mộ của ông Ngô Văn L1; ngoài ra còn có nhà, vật kiến trúc, cây trồng của gia đình bà L thể hiện quyền tài sản đối với thửa đất này. Bên bị đơn cấp giấy chứng nhận nhưng không sử dụng, không quản lý và không có bất cứ vật kiến trúc trên đất và cũng không biết vị trí thửa đất cho đến khi có tranh chấp. Nên cấp sơ thẩm xác định bà Đặng Thị Ngọc L và các con có quyền sử dụng đất đối với diện tích 79,5m² là căn cứ.

[5.7] Do chị Ngô Thị L2, anh Phạm Trung N1 được xác lập quyền sử dụng đất thông qua Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 04/01/2013 và ngày 30/01/2013, UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00098 cho chị Ngô Thị L2, anh Phạm Trung N1 và Giấy chứng nhận đã chỉnh lý biến động cho bà T6 đứng tên đã bị thu hồi. Theo Công văn 64 của Toà án nhân dân Tối cao không cần thiết phải đưa UBND huyện P tham gia tố tụng và không cần thiết phải huỷ giấy chứng nhận đã cấp cho chị L2, anh N1. Tuy nhiên, để giải quyết triệt để, Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến nghị Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có thẩm quyền thu hồi, chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất từ chị Ngô Thị L2, bà Phạm Trung N1 sang cho bà Đặng Thị Ngọc L và các con của ông L1 đứng tên trọn thửa 26, diện tích 79,5m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00098 do UBND huyện P cấp ngày 30/01/2013 cho chị L2, anh N1; anh N1, chị L2 phải giao nộp lại Giấy chứng nhận trên để cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo nội dung bản án phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, chị L2, anh N1 kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, để đảm bảo bản án được thi hành triệt để nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án.

[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, anh N1, chị L2 mỗi người phải chịu án phúc thẩm 300.000đ theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của chị Ngô Thị L2, anh Phạm Trung N1.

Sửa bản án sơ thẩm số: 247/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyên Phú Tân về nội dung tuyên án.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 32 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Bà Đặng Thị Ngọc L, chị Ngô Thị C, chị Ngô Thị H, chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị Bích T được quyền sử dụng đất thửa 26, diện tích đất 79,5m², tại thửa số 26, tờ bản đồ số 23, tại các điểm M1, M2, M3, M4 theo sơ đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện P lập ngày 20/02/2024.

Các đương sự bà L, chị C, chị H, chị N và chị T phải đến cơ quan có thẩm quyền kê khai, đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Chị Ngô Thị L2 và anh Phạm Trung N1 phải nộp lại cho cơ quan có thẩm quyền giấy chứng nhận QSD đất số CH00098 ngày 30/01/2013, do chị L2 và anh N1 đứng tên.

Kiến nghị Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai thu hồi, chỉnh lý biến động đất đai trên giấy chứng nhận QSD đất số CH00098 ngày 30/01/2013, do chị Ngô Ngọc L4 và anh Phạm Trung N1 đứng tên sang cho bà Đặng Thị Ngọc L, chị Ngô Thị C, chị Ngô Thị H, chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị Bích T đứng tên quyền sử dụng đất.

* Về chi phí tố tụng: Bà Đặng Thị Ngọc L, chị Ngô Thị C, chị Ngô Thị H, chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị Bích T tự nguyện chịu 2.031.400đ (đã nộp xong)

* Về án phí sơ thẩm: Bà Đặng Thị Ngọc L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chị Ngô Thị C tự nguyện 300.000đ được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0006332, ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, các đương sự còn lại không phải chịu án phí.

Chị Ngô Thị H, chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị Bích T không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho chị Ngô Thị H, chị Ngô Thị N và chị Ngô Thị Bích T mỗi người 300.000₫ theo các biên lai thu số 0006333, 0006334, 0006335, cùng ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

Những nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Án phí dân sự phúc thẩm: Chị L4, anh N1 mỗi người phải chịu án phúc thẩm 300.000đ, được khấu vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0006270; 0006271 cùng ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao;
  • - VKSND An Giang;
  • - TAND huyện Phú Tân;
  • - THA huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Phòng KTNV-THA;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Chí Keo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 298/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 298/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu Toà án chấp nhận cho gia đình bà L và các con được quyền sử dụng diện tích đất đã cấp cho chị L1 và anh N, yêu cầu chị L1, anh N làm thủ tục sang tên lại cho gia đình bà L và các con của bà L.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger