|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 297/2024/HS-ST Ngày 27 - 9 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hoàn
- Bà Hoàng Lệ Chi
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 301/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với các bị cáo:
- Dương Hữu L (tên gọi khác: L1), sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số A, quốc lộ A, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế xe cuốc; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Dương Hữu H, sinh năm 1966 và bà Huỳnh Thị Kim D, sinh năm 1968; bị cáo có 01 anh ruột sinh năm 1989; vợ tên Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1995; có 01 người con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 10/12/2023, trả tự do ngày 10/12/2024; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2924 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Đặng Uyên N (tên gọi khác: B), sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số A, tổ D, đường D, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Đặng Văn V, sinh năm 1957 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1958; bị cáo có 07 anh, chị, em ruột (lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1996); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 19/4/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại bản án số 114/2022/HSST ngày 19/4/2024, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2022, đóng án phí ngày 09/8/2022; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 28/02/2021, bị Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, đã nộp phạt ngày 03/3/2021; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2924 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Phạm Văn C (tên gọi khác: Đ), sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Đường B, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: Số A đường số A, khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; con ông Phạm Văn C1 (đã chết) và bà Vũ Thị H2, sinh năm 1968; có 01 em sinh năm 2000; vợ tên Nguyễn Thanh A1, sinh năm 1992; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 25/4/2016, bị Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, nộp phạt ngày 26/4/2016; bị bắt ngày 10/12/2023, trả tự do ngày 10/12/2024; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2924 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Nguyễn Hoàng S (tên gọi khác: Tý A2), sinh năm 1984 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số E, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963 và bà Phạm Thu H3, sinh năm 1962; có 02 em ruột (lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1992); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 12/6/2019, bị Toà án nhân dân Quận 9 (nay là Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 59/2019/HSST ngày 12/6/2019, chấp hành xong hình phạt ngày 12/12/2020, nộp án phí ngày 04/5/2020; bị bắt ngày 10/12/2023, trả tự do ngày 10/12/2024; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2924 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Dương Văn B1, sinh năm 1989 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Số A, đường số H, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Dương Văn D1, sinh năm 1960 và bà Lý Kim Q, sinh năm 1964; bị cáo có 06 anh, chị, em ruột (lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1998); vợ tên Lê Thị Ngọc H4, sinh năm 1994; có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 10/12/2023, trả tự do ngày 10/12/2024; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2924 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1979 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số B, tổ I, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Bạch Văn C2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị A3, sinh năm 1951; bị cáo có 05 anh, chị, em ruột (lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất là bị cáo); vợ tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1989; có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 10/12/2023, trả tự do ngày 10/12/2024; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2924 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 10/12/2023, Dương Hữu L đang đưa con đi khám bệnh tại Bệnh viện N1, Thành phố Hồ Chí Minh thì Đặng Uyên N sử dụng số điện thoại 0909.939.xxx gọi điện thoại cho L theo số 0967.486.xxx và nói “Bên em có con gà ký ba không đá năm triệu”, L trả lời “chờ em chút” và L gọi điện thoại cho Phạm Văn C số điện thoại 0939.038.xxx và nói “Anh có gà ký ba không”, C nói “Có đá kèo hai triệu”. Cùng lúc, L nói “Người ta rủ đá năm triệu, thôi đá năm triệu luôn đi” thì C đồng ý. Sau đó, L và C hẹn nhau đá gà ở bãi đất trống bên cạnh công trình xây dựng chung cư K tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau khi thoả thuận xong, C sử dụng điện thoại gọi vào số điện thoại 0937.578.xxx của Nguyễn Văn Đ1 nói có người rủ đá gà 1,3kg rồi rủ Đ1 mang gà lên đá và hẹn gặp nhau ở bãi đất trống bên cạnh công trình xây dựng chung cư K tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì Đ1 đồng ý. Khoảng 09 giờ 30 phút, Đ1 gọi điện thoại vào số 0906.809.xxx rủ Nguyễn Hoàng S rủ đi đá gà và nói đi đá gà cùng với C thì S đồng ý. Sau đó, S mang theo 01 con gà, 01 cặp cựa gà (02 cái) đi đến nhà Đ1 ở địa chỉ số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Cùng lúc, S điều khiển xe mô tô (không nhớ rõ biển số) của Đông mượn của bạn tên T1 (không nhớ rõ nhân thân, lai lịch) chở Đ1 ngồi sau ôm con gà rồi cùng Đ1 đi đến công trình xây dựng chung cư K tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi đến trước đường vào công trình xây dựng chung cư K thì gặp C, C nói với S và Đ1 đá kèo thắng thua số tiền 5.000.000 đồng, Đ1 đưa con gà cho C ôm rồi Đ1, S và C cùng đi vào bãi đất trống. Đối với Dương Hữu L, sau khi điện thoại nói chuyện với C, L gọi điện thoại cho Đặng Uyên N nói có người đồng ý đá gà 5.000.000 đồng và hẹn N mang gà đến địa điểm thì N đồng ý. N dùng số điện thoại 0909.939.xxx gọi điện thoại đến số 0981.364.xxx của Dương Văn B1 và nói “Có kèo đá con gà tre của tao rồi” và rủ B1 đi đá gà ăn tiền thì B1 đồng ý. Nguyên mang theo 01 con gà tre, 01 cặp ngựa bằng sắt và điều khiển xe mô tô đi đến trước công ty G, đường số I, phường L, thành phố T, Thành phố H rồi gọi điện cho B1. Khi gặp B1 thì N nói đi băng cựa, làm nước dùm N rồi N đưa gà cho B1 giữ. Sau đó, B1 và N cùng đi đến điểm hẹn để đá gà. Dương Hữu L sau khi gọi điện thoại cho Đặng Uyên N thì L về nhà lấy 01 cuộn băng keo bằng vải rồi đi bộ ra nơi đã hẹn với C và N. Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 10/12/2023, L đi bộ đến điểm hẹn rồi đi vào trong chuồng gà (cân có sẵn trong chuồng gà của L) lấy 01 cái cân đồng hồ loại 05kg ra để cân gà. Khoảng 05 phút sau cùng ngày, N và B1 đến. Nguyên mang theo 01 con gà (gà của N) giấu trong áo trước ngực, C đi vào mang theo 01 con gà (gà của S) và đi cùng với Đ1, S. Lúc này, S và N cân gà, 02 con gà đều có trọng lượng 1,3kg. L đưa cuộn băng keo bằng vải cho B1, N ôm gà để B1 băng cựa, cùng lúc C ôm gà cho S băng cựa. Khi S đang băng cựa gà thì bị Công an phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương phát hiện lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối với Dương Hữu L, Phạm Văn C, Nguyễn Văn Đ1, Dương Văn B1, Nguyễn Hoàng S, riêng Đặng Uyên N chạy thoát.
Vật chứng thu giữ, gồm:
- 02 con gà, 02 cặp cựa gà (04 cái cựa) bằng kim loại, một đầu nhọn và 01 cái cân đồng hồ, nhãn hiệu Nhơn Hòa, màu xanh, loại 05kg, 05 cuộn băng keo.
- Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 gắn sim số 0937579717 và số tiền 23.500.000 đồng của Nguyễn Văn Đ1.
- Thu giữ của Dương Văn B1 01 điện thoại, nhãn hiệu Oppo A5, gắn sim số 0981364810 và số tiền 250.000 đồng.
- Thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax gắn sim số 0939.038.138 và số tiền 4.2.000.000 đồng của Phạm Văn C.
- Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 gắn sim số 0967.486.838 và số tiền 3.050.000 đồng của Dương Hữu L.
- Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax gắn sim số 0906.809.555 và số tiền 2.560.000 đồng của Nguyễn Hoàng S.
Đến ngày 27/12/2023, Đặng Uyên N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương để khai nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia TA-1034 gắn sim số 0909.939.722 và số tiền 5.000.000 đồng của Đặng Uyên N.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau:
- Đặng Uyên N: Là người gọi cho Dương Hữu L để sắp xếp kèo đá gà, khi đi mang theo 01 con gà và 01 cặp cựa bằng sắt đồng thời N là người rủ Dương Văn B1 cùng đi đá gà. Nguyên một mình tham gia đánh bạc với nhóm của C, gồm: C, S, Đ1 với số tiền mỗi bên tham gia đánh bạc là 5.000.000 đồng.
- Phạm Văn C: Là người cáp kèo với Dương Hữu L đồng thời là người gọi điện rủ Nguyễn Văn Đ1 mang theo gà đi đá. Lúc đi C mang theo số tiền 4.200.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt bị thu giữ số tiền 4.200.000 đồng.
- Nguyễn Hoàng S: Mang theo 01 con gà, 01 cặp cựa đồng thời mang theo số tiền 2.560.000 đồng, sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt bị thu giữ số tiền 2.560.000 đồng.
- Nguyễn Văn Đ1: Là người rủ Nguyễn Hoàng S tham gia đánh bạc, khi đi mang theo số tiền 23.500.000 đồng và sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt bị thu giữ số tiền 23.500.000 đồng.
- Dương Hữu L: Là người cáp kèo cho N đánh bạc với nhóm của C. Khi đi đánh bạc mang theo 01 cuộn băng keo bằng vải, khi đến địa điểm đá gà thì lấy cân, đưa cuộn băng keo cho B1 đồng thời là người làm trọng tài cho 02 nhóm đá gà.
- Dương Văn B1: B1 là người tham gia băng cựa gà, làm nước và giữ gà.
Tổng số tiền các đối tượng đánh bạc sử dụng là 10.000.000 đồng.
Ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Dương Hữu L và đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng số: 301/CT-VKS-DA ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Dương Hữu L, Đặng Uyên N, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Văn C, Nguyễn Hoàng S và Dương Văn B1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Đặng Uyên N từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.
- Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
- Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng.
- Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo: Dương Hữu L, Dương Văn B1, Nguyễn Văn Đ1 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 con gà (mỗi con nặng 1,3 kg đã chết) nên ngày 11/12/2023 Công an phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương đã lập biên bản tiêu hủy; 02 (hai) cặp cựa gà (04 cái cựa) bằng kim loại, một đầu nhọn và 01 (một) cái cân đồng hồ, nhãn hiệu Nhơn Hòa, màu xanh, loại 05kg, 05 (năm) cuộn băng keo cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 của Nguyễn Văn Đ1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax của Nguyễn Hoàng S không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Hoàng S.
- Đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo A5 của Dương Văn B1; 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax của Phạm Văn C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 của Dương Hữu L; và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia TA-1034 của Đặng Uyên N cần tịch thu sung Quỹ Nhà nước.
- Đối với sim số 0981364810 của Dương Văn B1, sim số 0939.038.138 của Phạm Văn C, sim số 0967.486.838 của Dương Hữu L và sim số 0909.939.722 của Đặng Uyên N cần tịch thu tiêu hủy.
- Buộc Nguyễn Văn Đ1 phải giao nộp số tiền 2.000.000 đồng. Đối với số tiền còn lại là 21.500.000 đồng của Đ1, do không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho Nguyễn Văn Đ1.
- Buộc Nguyễn Hoàng S phải giao nộp số tiền 1.000.000 đồng. Đối với số tiền còn lại là 1.560.000 đồng không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho Nguyễn Hoàng S.
- Buộc Phạm Văn C phải giao nộp số tiền 2.000.000 đồng. Đối với số tiền còn lại là 2.200.0000 đồng của bị cáo C, không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho Phạm Văn C.
- Buộc Đặng Uyên N phải giao nộp số tiền 5.000.000 đồng để tịch thu Sung quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền 250.000 đồng thu giữ của Dương Văn B1, không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho Dương Văn B1.
- Số tiền sử dụng để đánh bạc 10.000.000 đồng là số tiền các đối tượng sử dụng để Đánh bạc nên cần tịch thu Sung quỹ Nhà nước.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai của các bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 10/12/2023, Dương Hữu L, Đặng Uyên N, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Văn C, Nguyễn Hoàng S và Dương Văn B1 thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức đá gà, với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 10.000.000 đồng tại bãi đất trống bên cạnh công trình xây dựng chung cư K, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
[3] Như vậy, hành vi của các bị cáo Dương Hữu L, Đặng Uyên N, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Văn C, Nguyễn Hoàng S và Dương Văn B1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số: 301/CT-VKS-DA ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức thắng thua bằng tiền đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Các bị cáo tham gia đánh bạc có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức.
[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Uyên N phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng.
[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo Phạm Văn C, Dương Văn B1, Dương Hữu L, Nguyễn Văn Đ1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Nguyễn Hoàng S là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[8] Về nhân thân: Các bị cáo Đặng Uyên N, Nguyễn Hoàng S đã từng bị Tòa án xét xử, bị cáo Phạm Văn C đã từng bị xử phạt hành chính. Các bị cáo Dương Văn B1, Dương Hữu L, Nguyễn Văn Đ1 có nhân thân tốt thể hiện các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và người lao động.
[9] Về hình phạt:
- Hình phạt chính.
- Xét bị cáo Đặng Uyên N đã có tiền án về tội đánh bạc, chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới thể hiện thái độ xem thường pháp luật; số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc nhiều hơn so với các bị cáo khác nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Để đảm bảo cho việc thi hành án nên cần tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
- Xét bị cáo Phạm Văn C, Nguyễn Hoàng S tuy có nhân thân xấu nhưng các bị cáo có nhiều tình tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo là những người được rủ rê đi đánh bạc, số tiền đánh bạc không lớn. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, kể từ khi được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không ảnh hưởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phương. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với các bị cáo.
Các bị cáo Dương Văn B1, Dương Hữu L không trực tiếp tham gia đánh bạc mà chỉ có hành vi giúp sức, bị cáo Nguyễn Văn Đ1 trực tiếp tham gia đánh bạc với số tiền không lớn. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất của hành vi phạm tội đơn giản và là người lao động, hơn nữa trong thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cặp cựa gà (04 cái cựa) bằng kim loại, một đầu nhọn; 01 (một) cái cân đồng hồ, nhãn hiệu Nhơn Hòa, màu xanh, loại 05kg; 05 (năm) cuộn băng keo; sim số 0981.364.810, 0939.0 38.138, 0967.486.838, 0909.939.722.
- Tịch thu Sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo A5; 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34; và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia TA-1034.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 10.000.000 đồng.
[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên về mức hình phạt đề nghị đối với các bị cáo là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[12] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ2 a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Dương Hữu L, Đặng Uyên N, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Văn C, Nguyễn Hoàng S và Dương Văn B1 phạm tội “Đánh bạc”.
1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đặng Uyên N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị bắt 01 ngày (ngày 10/12/2023).
Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.
1.2 Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng S cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
1.3 Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn C cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo S và bị cáo C.
1.4 Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Dương Văn B1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Xử phạt bị cáo Dương Hữu L 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cặp cựa gà (04 cái cựa) bằng kim loại, một đầu nhọn; 01 (một) cái cân đồng hồ, nhãn hiệu Nhơn Hòa, màu xanh, loại 05kg; 05 (năm) cuộn băng keo; sim số 0981.364.810, 0939.038.138, 0967.486.838, 0909.939.722.
- Tịch thu Sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34; và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia TA-1034.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 9 năm 2024 và lệnh thanh toán ngày 11/9/2024.
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Dương Hữu L, Đặng Uyên N, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Văn C, Nguyễn Hoàng S và Dương Văn B1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 297/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về đánh bạc
- Số bản án: 297/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
