Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Q. HAI BÀ TRƯNG

TP. HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 297/2023/HSST

Ngày: 25/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: bà Phan Thanh Hà

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Danh Hải

bà Nguyễn Thị Xuân Phương

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Phạm Thị Thanh Thủy - Cán bộ TAND quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở TAND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 349/2023/HSST, ngày 04/12/2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Hà Thị T - Sinh năm: 1988; Giới tính: nữ; Nơi ĐKNKTT: khu N, xã T, huyện T, Phú Thọ; chỗ ở: không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 1/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Con ông: Hà Văn C; Con bà: Phùng Thị C1; Chồng: không (có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009); TATS: chưa (D chỉ bản số 495 ngày 06/10/2023 của công an quận H lập và lý lịch tư pháp phản ánh);

Bị cáo bị bắt ngày 28/9/2023 - có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Nghiêm Thị N - Trợ giúp viên pháp lý - TT trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Lê Trác T1 - sinh năm: 1993 (vắng mặt)

HKTT: B, A, Hải Phòng

+ Hà Thị L - sinh năm: 1990 (có mặt)

HKTT: khu N, xã T, huyện T, Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/9/2023, Lê Tuấn A cùng bạn xã hội là Lê Trác T1 gặp nhau uống nước, nói chuyện. Lúc này, T1 nói quen biết với gái bán dâm là T (tên Z là Thảo M) nên T1 dùng zalo “cò là“ liên hệ với T để rủ T mua bán dâm. Trong lúc T1 đang đi vệ sinh để điện thoại trên bàn, Tuấn A cũng có nhu cầu mua dâm nên đã sử dụng điện thoại và zalo của T1 nhắn tin với T: “em gọi cho ông một đứa. Bao tiền a đưa cho em nhé. Đứa nào chiều ông 1 tí, anh cho thêm tiền, đứa nào chiều mà nhiệt tình là được em nhé“ để nhờ T rủ thêm gái bán dâm để bán dâm cho Tuấn A. T đồng ý. Sau đó Tuấn A có nói chuyện này với T1 và hỏi T1 về giá mua dâm là bao nhiêu? T1 nói với Tuấn A là việc này Tuấn A tự nói chuyện với T để thống nhất. Do vậy, Tuấn A dùng luôn máy của T1 nhắn tin với T để thỏa thuận giá bán dâm. Tuấn A nhắn cho T: “bạn em đi bao nhiêu tiền. Có đến 2 triệu hok; tiền anh trả cả cho. Biết tính a a ko để em và bạn em thiệt đâu; a cứ đưa như em là 2 triệu. Như vậy được chưa; chơi vs a a cho thêm“. Nội dung nhắn tin như trên để thỏa thuận với T giá bán dâm của T với gái bán dâm mà T gọi đi cùng. T đồng ý thỏa thuận giá bán dâm 2.000.000đ/người qua đêm. Sau đó T rủ em ruột là Hà Thị L có tên zalo “Em B“ đi bán dâm với giá 2.000.000đ. L đồng ý qua sự dẫn dắt của T. T hẹn T1 đến nhà nghỉ T3 tại: B Đ, B, H, Hà Nội để lấy phòng.

Khoảng 20h00' ngày 27/9/2023, Tuấn AT1 đến nhà nghỉ T3 để thuê phòng 201 và 402. T1 ở phòng 201 còn Tuấn A ở phòng 402. T1 gọi cho Tình báo số phòng. T gọi cho L đến nhà nghỉ T3 và lên phòng 402. L đồng ý. Đến khoảng 20h30' cùng ngày, T đến nhà nghỉ và lên phòng 402. Tại đây, T1 đưa cho T 2.000.000đ và cho thêm 1.000.000đ. T mang tiền về cất tại P301 (là phòng T thuê từ trước) ròi quay lại P201 để quan hệ tình dục với T1. Lúc này L cũng đến nhà nghỉ T3, nên Tuấn A cùng L lên P402. Tại đây, Tuấn A đưa cho L 2.000.000đ. Tuấn AL ở lại P402 quan hệ tình dục. Sau đó L có việc riêng nên đi ra ngoài, đến 00h30' ngày 28/9/2023 thì quay lại để tiếp tục quan hệ với Tuấn A.

Khoảng 01h00' ngày 28/9/2023, Công an quận H phối hợp với Đội quản lý hành chính - công an phường B kiểm tra hành chính nhà nghỉ T3. Qua kiểm tra tại P402, phát hiện Hà Thị LLê Tuấn A đang quan hệ tình dục, tại chỗ cả hai khai nhận là đang mua bán dâm. L khai đi bán dâm qua giới thiệu của Hà Thị T. Tiếp tục kiểm tra P201, tổ công tác phát hiện Hà Thị TLê Trác T1 đang quan hệ tình dục. Tại chỗ, Hà Thị T khai nhận đang bán dâm cho T1, T còn giới thiệu L bán dâm cho khách.

Cơ quan công an đã thu giữ tại P201: 01 điện thoại Iphone 12 Prmax; 01 bao cao su cùng số tiền 3.000.000đ (của T); Thu giữ tại P402: 01 điện thoại Iphone 11; 01 bao cao su và số tiền 2.000.000đ (của Hà Thị L); Thu giữ 01 điện thoại Iphone 6 (của T1).

Tại cơ quan điều tra, Hà Thị T khai nhận toàn bộ hành vi môi giới L bán dâm cho Tuấn A như đã nêu trên. Đây là lần đầu tiên T bán dâm cho khách tại nhà nghỉ này. Tiền thu nhập từ việc bán dâm, T tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 06/10/2023, cơ quan công an đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Trác T2Lê Tuấn A về hành vi mua dâm và đối với Hà Thị L về hành vi bán dâm.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H là quản lý nhà nghỉ T3 khai: chị được ủy quyền của bà Phạm Thị N1 ủy quyền kinh doanh hoạt động nhà nghỉ T3, chị cho T thuê P301 với giá 2.000.000đ/tháng từ ngày 26/7/2023 đến nay. Việc T bán dâm và môi giới mại dâm chị H không biết. Ngày 07/11/2023, công an quận H đã gửi công văn đề nghị UBND thành phố H xử phạt hành chính đối với người đứng đầu, người được giao quản lý nhà nghỉ T3 để xảy ra hoạt động mại dâm với mức phạt từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng.

Tại bản cáo trạng số 356/CT-VKS ngày 30/11/2023, của VKSND quận Hai Bà Trưng đã truy tố bị cáo Hà Thị T về tội "Môi giới mại dâm" theo khoản 1, Điều 328 - BLHS.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Toà xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

- Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 01h00' ngày 28/9/2023, tại nhà nghỉ T3 (địa chỉ: B Đ, phường B, quận H, Hà Nội), Hà Thị T đã có hành vi môi giới cho Hà Thị L bán dâm cho Lê Tuấn A với giá 2.000.000đ. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”. Do đó, VKS giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hà Thị T về tội “Môi giới mại dâm”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 328; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 - BLHS xử phạt bị cáo Hà Thị T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su (đã qua sử dụng);

- Tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 12 Prmax; số tiền 3.000.000đ (của T); 01 điện thoại Iphone 11; số tiền 2.000.000đ (của Hà Thị L); 01 điện thoại Iphone 6 (của T1).

* Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của VKS về việc truy tố bị cáo với tội danh “Môi giới mại dâm”. Đề nghị HĐXX xem xét: về hành vi của bị cáo T, suất phát từ sự kém hiểu biết, nhận thức pháp luật còn hạn chế, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo là người dân tộc thiểu số ở trong các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng, được hưởng mức thấp trong khung hình phạt và miễn án phí, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, VKS nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án - đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01h00' ngày 28/9/2023, tại nhà nghỉ T3 (địa chỉ: B Đ, phường B, quận H, Hà Nội), Hà Thị T đã có hành vi môi giới cho Hà Thị L bán dâm cho Lê Tuấn A với giá 2.000.000đ. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo đã phạm tội "Môi giới mại dâm" được quy định tại khoản 1, Điều 328 - BLHS. VKS truy tố bị cáo ra xét xử theo điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Mai dâm là một tệ nạn xã hội, nó là nguyên nhân gây ra những căn bệnh chết người, làm suy đồi thuần phong mỹ tục của người Việt Nam và là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm của người phụ nữ, nên cần phải lên án. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, việc xử lý bị cáo bằng pháp luật là cần thiết.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có 01 tiền án tiền sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 - BLHS để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan công an đã thu giữ 01 điện thoại Iphone 12 Prmax (của T); 01 điện thoại Iphone 11 (của L); 01 điện thoại Iphone 6 (của T1). Những chiệc điện thoại này, bị cáo và người liên quan dùng vào việc môi giới mua bán dâm, nên cần tịch thu, phát mại, sung công quỹ Nhà nước.

- Ngoài ra còn thu giữ 3.000.000đ của T và 2.000.000đ của L, đây là tiền do TL bán dâm mà có nên cần tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.

- Cơ quan công an còn thu giữ 02 bao cao su, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định tại Điều 135 – BLTTHS. Nhưng do bị cáo là dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/CP quy định về án phí, lệ phí tòa án để miễn án phí cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 - BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị T phạm tội "Môi giới mại dâm"
  • - Điều luật áp dụng: khoản 1, Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51 - BLHS.
  • Xử phạt: H1 (sáu) tháng tù.
  • Thời hạn tù tính từ ngày bắt 28/9/2023
  • * Vật chứng: Căn cứ Điều 106 – BLTTHS
  • - Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su (đã qua sử dụng) (hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án quận Hai Bà Trưng theo biên bản ngày 19/12/2023 – 67/24).
  • - Tịnh thu, phát mại, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, số Imei: 354876507309628, Imei2: 354876507292196; 01 điện thoại Iphone 11 màu đen, số Imei: 352900111414400, Imei2: 352900111425745; 01 điện thoại Iphone 6 màu trắng, số Imei: 358610073540803, cả 03 đều đã qua sử dụng, không kiểm tra nội dung, dữ liệu trong máy. (hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án quận Hai Bà Trưng theo biên bản ngày 19/12/2023 – 67/24).
  • - Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 3.000.000đ của T và 2.000.000đ của L (tại giấy nộp tiền vào tài khoản của chi cục thi hành án quận Hai Bà Trưng ngày 19/12/2023).
  • * Án phí: Miễn án phí cho bị cáo.
  • * Quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị L) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hai Bà Trưng
  • - Chi cục THADS quận Hai Bà Trưng;
  • - UBND quận Hai Bà Trưng
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

Phan Thanh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 297/2023/HSST ngày 25/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về môi giới mại dâm

  • Số bản án: 297/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Moi gioi mai dam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger