|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 297/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21-8-2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Chánh - Cán bộ hưu trí.
- Bà Thiều Thị Phi Loan - Nguyên phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố B.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1742/2023/TLST-HNGĐ ngày 10/7/2023, về việc “Tranh chấp ly hôn,” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 316/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Trần V, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp Định Khánh B, xã Đ, huyện Th, Thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm: 1987.
Địa chỉ thường trú: ấp 8, xã X1, huyện X2, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ tạm trú: nhà không số, đường tỉnh lộ 768, khu phố 3, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông V và bà G có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn ông Huỳnh Trần V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Thị Ngọc G tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã X1, huyện X2, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 202 quyển số 01/2008 ngày 01/12/2008 theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không hạnh phúc. Hai vợ chồng đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả.
Nay, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục quan hệ hôn nhân và chung sống với nhau nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Gấm để chấm dứt tình trạng hôn nhân hiện nay.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi không có con chung. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Quá trình chung sống chúng tôi không có nợ chung. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Huỳnh Trần V tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã X1, huyện X2, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 202 quyển số 01/2008 ngày 01/12/2008 theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không hạnh phúc. Hai vợ chồng đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả.
Nay, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục quan hệ hôn nhân và chung sống với nhau nên ông Vinh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với tôi thì tôi đồng ý ly hôn với ông Vinh.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi không có con chung. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Quá trình chung sống chúng tôi không có nợ chung. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:
Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của ông Vinh và bà Gấm không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, ông Vinh yêu cầu ly hôn với bà Gấm là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- - Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết.
- - Về tài sản chung: Không có, không xem xét giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết.
- - Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Vinh phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Ông Huỳnh Trần V yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc G. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Ông Huỳnh Trần V là nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Ngọc G là bị đơn.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Huỳnh Trần V nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc G hiện đang cư trú tại nhà không số, đường tỉnh lộ 768, khu phố 3, phường Tr, thành phố Bi, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
[3] Về thủ tục tố tụng: Ông V và bà G đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Trần V và bà Nguyễn Thị Ngọc G tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã X1, huyện X2, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 202 quyển số 01/2008 ngày 01/12/2008 nên áp dụng Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không hạnh phúc. Hai vợ chồng đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục quan hệ hôn nhân và chung sống với nhau nên ông Vinh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà G. Vì tình cảm không còn nên bà Gấm cũng đồng ý ly hôn với ông V. Xét đây là sự tự nguyện của các bên và không trái quy định của pháp luật Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn xin ly hôn của ông V.
[5] Về con chung: Ông V và bà G trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết
[6] Về tài sản chung: Ông V và bà G tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết
[7] Về nợ chung: Ông V và bà G trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết
[8] Về án phí: Ông V phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” của ông Huỳnh Trần Vinh.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Trần V được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc G.
- Về con chung: Ông V và bà G không có, Toà án không giải quyết.
- Về tài sản chung: Ông Vinh và bà Gấm tự thoả thuận, Toà án không giải quyết.
- Về nợ chung: Ông V và bà G không có, Toà án không giải quyết.
- Về án phí: Ông Huỳnh Trần V phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008443 ngày 07/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thành Thị Thu Trang |
Bản án số 297/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 297/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vợ chồng tranh chấp ly hôn
