Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 297/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24.09.2024

V/v: chia tài sản chung sau ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn

Ông Nguyễn Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 23, 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 191/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về chia tài sản chung sau ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60 /2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979. Địa chỉ: số E, tổ A, phường P, quận H, TP Hà Nội (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Hoàng Ngọc H và Luật sư Vũ Thị V - Văn phòng L3 - Đoàn luật sư Thành phố H (Luật sư H vắng mặt, Luật sư V có mặt)

Bị đơn: Ông Tường Phi Q, sinh năm 1973. Địa chỉ: số E tổ D phường P, quận H, TP Hà Nội (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Cư T, sinh năm 1962, HKTT: tổ A, phường P, quận H, TP Hà Nội (có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng N5, địa chỉ: số B, L, phường T, quận B, TP Hà Nội. (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
  2. Ông Tường Phi C, HKTT: tổ D phường P, quận H, TP Hà Nội (có mặt)
  3. Vợ và các con của ông Tường Phi C:
    • 3.1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1972, HKTT: tổ D, phường P, quận H, TP Hà Nội (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
    • 3.2. Chị Tường Thị H1, sinh năm 2000, HKTT: tổ D, phường P, quận H, TP Hà Nội (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
    • 3.3. Chị Tường Thị Vân A, sinh năm 2003, HKTT: tổ D, phường P, quận H, TP Hà Nội (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
    • 3.4. Chị Tường Thị Hồng D, sinh năm 2005, HKTT: tổ D, phường P, quận H, TP Hà Nội. (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
    • 3.5. Anh Tường Phi C1, sinh năm 2007, HKTT: tổ D, phường P, quận H, TP Hà Nội. (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật của anh Tường Phi C1: Ông Tường Phi C: HKTT: tổ D phường P, quận H, TP Hà Nội (có mặt)

  1. Các con của ông Tường Phi Q và bà Nguyễn Thị N:
    • 4.1. Anh Tường Phi C2, sinh năm 2000, HKTT: tổ D, phường P, quận H, TP Hà Nội. (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
    • 4.2. Chị Tường Thị N2, sinh năm 1997, HKTT: tổ , phường P, quận H, TP Hà Nội (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
  2. Vợ của ông Tường Phi Q: Bà Bùi Thị H2, sinh năm 1975, HKTT: tổ B, phường P, quận H, TP Hà Nội (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị N và ông Tường Phi Q kết hôn ngày 14/7/1996 tại UBND xã P, huyện T, nay là phường P, quận H, TP Hà Nội. Ông bà đã ly hôn theo bản án số 45/2019/HNGĐ-ST ngày 28/8/2019 của Toà án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội.

Tại bản án số 45/2019/HNGĐ-ST ngày 28/8/2019 của Toà án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội đã quyết định:

"1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Tường Phi Q với chị Nguyễn Thị N.

Xử: anh Tường Phi Q được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.

2.Về nợ chung vợ chồng tại Ngân hàng N5: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu".

Dành quyền khởi kiện cho các đương sự về việc liên quan đến tài sản chung của anh Tường Phi Q và chị Nguyễn Thị N khi có căn cứ và có yêu cầu".

Ngày 15/2/2024, bà Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau ly hôn gửi đến Toà án nhân dân quận Hà Đông. Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà và ông Tường Phi Q kết hôn năm 1996. Hai vợ chồng ở cùng gia đình nhà chồng trên thửa đất số 138, tờ bản đồ 4, diện tích 195 m2 huyện T (sau này là phường P), quận H, TP Hà Nội. Nguồn gốc thửa đất này là của bố mẹ chồng bà là cụ L, cụ C3 mua của cụ T6. Trên đất có nhà 05 gian. Năm 2000, vợ chồng bà và vợ chồng ông C (anh trai ông Q) cùng phá dỡ 05 gian nhà cũ để xây dựng nhà mới, vợ chồng ông C xây nhà phía bên ngoài, vợ chồng bà xây nhà phía bên trong, vợ chồng bà xây 01 nhà mái bằng diện tích 50m2, sau đó xây thêm 30 m2 công trình phụ. Ông Q xây nhà, bà phụ xây cho ông Q, nguyên vật liệu vợ chồng tự mua, về công sức xây dựng, nguồn tiền xây nhà: bà N khai công sức xây dựng hết khoảng 500.000.000 đ (Năm trăm triệu đồng), trong đó 400 triệu đồng là tiền của vợ chồng, 100 triệu đồng vay của bố mẹ vợ, khoản vay 100 triệu đồng bố mẹ vợ, ông Q đã trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q. Hiện nay, bà khai tiền xây nhà do bà bán một mảnh đất tiêu chuẩn của bà, còn lại là công sức của bà và ông Q. Bà xác định công sức xây nhà mỗi vợ chồng ½ công sức. Thời điểm xây nhà, bà hàng rong đồ gia dụng ở chợ.

Năm 2003, bà và ông Q được bố mẹ chồng tặng cho toàn bộ thửa đất số 138, tờ bản đồ 4, diện tích 193 m2 huyện T nêu trên (sau này là phường P), quận H, Hà Nội. Cụ thể: Năm 2003, cụ L tự đi làm sổ đỏ đứng tên ông Q, sau đó, cụ L gặp vợ chồng bà, đưa sổ đỏ cho ông Q và nói với vợ chồng bà “bố mẹ cho hai đứa mảnh đất này”. Bà không có văn bản, tài liệu, giấy tờ gì chứng minh cụ L, cụ C3 tặng cho cho ông bà đất. Khi cụ L cho bà và ông Q đất là cho bằng miệng, không có người làm chứng, chỉ có mặt cụ L, không có mặt cụ C3. Bà không biết lý do vì sao bố mẹ chồng chỉ cho vợ chồng bà toàn bộ thửa đất mà không cho ông C đất.

Đối với yêu cầu phản tố của ông Q và yêu cầu độc lập của ông C:

Bà N không đồng ý, bà xác định thửa đất số 138, tờ bản đồ 4, diện tích 195 m2 huyện T (sau này là phường P), quận H, Hà Nội là của bố mẹ chồng bà tặng cho bà và ông Q năm 2003, vì vậy đây là tài sản chung vợ chồng của bà và ông Q. Bà không biết có giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999. Tại buổi phân chia đất ngày 15/6/1999, bà không tham gia. Việc ông Q và ông C cho rằng cụ L cụ C3 tặng cho riêng ông Q và ông C thửa đất này theo giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999 là không đúng.

Đối với khoản nợ ngân hàng, bà N: khai quá trình làm ăn, năm 2011, vợ chồng đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng thửa đất số số 138, tờ bản đồ 4, diện tích 195 m2 huyện T (sau này là phường P), quận H, Hà Nội cho Ngân hàng N5- chi nhánh H5 để vay số tiền 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 2200LAV201101738 ngày 23/6/2011 để làm ăn, ông Q một mình sử dụng khoản vay để kinh doanh, bà không được ông Q đưa đồng nào. Bà yêu cầu giải quyết khoản nợ theo quy định pháp luật, sau đó bà rút yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ này với lý do ông Q đã thanh toán toàn bộ khoản nợ.

Bà thừa nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N về việc yêu cầu chia khoản nợ Ngân hàng N5. Bà N trình bày: quá trình làm ăn, vợ chồng đã thế chấp nhà đất nêu trên để vay 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng), bà yêu cầu được giải quyết khoản nợ theo quy định pháp luật, sau đó bà N có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện chia khoản nợ này với lý do ông Q đã tất toán toàn bộ khoản vay, Ngân hàng đã giải chấp tài sản thế chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q.

Bà N yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Đối với thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 tại phường P, quận H, Hà Nội (trước đây là thôn V, xã P, H): bà N yêu cầu chia đôi cho bà và ông Tường Phi Q mỗi người được hưởng 50% giá trị, bà đề nghị được chia bằng hiện vật. Lý do: thửa đất là tài sản chung vợ chồng.
  2. Đối với nhà và tài sản trên đất:
    • +Nhà và tài sản trên đất nằm phía bên trong do bà và ông Tường Phi Q xây dựng gồm 01 nhà cấp 4 mái bằng, 01 nhà vệ sinh, 01 phòng bếp, sân, cổng, bà yêu cầu chia đôi cho bà và ông Tường Phi Q mỗi người được hưởng 50% giá trị, bà yêu cầu được chia bằng hiện vật.
    • +Nhà và tài sản trên đất nằm phía bên ngoài do ông Tường Phi C xây dựng, quản lý, bà không có tranh chấp gì, bà xác định đây là tài sản của ông Tường Phi C. Đối với tài sản xây dựng trên phần ngõ đi chung gồm cổng, sân lát gạch, mái tôn trên ngõ đi chung, bà không có tranh chấp, không có yêu cầu gì.
  3. Đối với khoản nợ Ngân hàng: Hợp đồng tín dụng số 2200/LAV-201101738 ký ngày 23/6/2011 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh H5 – Phòng G ký kết với ông Tường Phi Q, khoản vay: 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng), tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 tại phường P, quận H, Hà Nội, bà N trình bày: quá trình làm ăn, vợ chồng đã thế chấp nhà đất nêu trên để vay 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng), bà yêu cầu được giải quyết khoản nợ theo quy định pháp luật, sau đó bà N có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện chia khoản nợ này với lý do ông Q đã tất toán toàn bộ khoản vay, Ngân hàng đã giải chấp tài sản thế chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q.
  4. Tại phiên tòa, bà N yêu cầu ông Q thanh toán công sức làm dâu, công sức tôn tạo, trông nom nhà đất.

-Ngoài ra, bà N không có yêu cầu, ý kiến gì khác.

Bị đơn - ông Tường Phi Q trình bày:

-Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N yêu cầu chia đôi cho bà N quyền sở hữu, sử dụng thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 tại phường P, quận H, Hà Nội (trước đây là thôn Xã P, H) vì lý do đây là tài sản chung, ông Q không đồng ý vì đây không phải là tài sản chung vợ chồng, đây là tài sản ông được tặng cho riêng, do bố mẹ ông tặng cho riêng ông và ông C, cụ thể:

Năm 1996, ông Q và bà N kết hôn. Năm 1999, bố mẹ ông là cụ Tường Phi L và cụ Nguyễn Thị C3 lập Giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999 tặng cho riêng thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 tại phường P, quận H, Hà Nội (trước đây là thôn V, xã P, H) cho ông Q và anh trai của ông là ông Tường Phi C. Giấy chia đất và tài sản có mặt bố mẹ ông là cụ L, cụ C3, có mặt ông Q, ông Tường Phi C. Hai người được chia đất và những người làm chứng: cụ Tường Phi V1 (là anh trai cụ Tường Phi L), cụ Nguyễn Thị Đ1 (là chị dâu của cụ L), cụ Tường Thị L1 - em gái của cụ L, trong giấy chia đất ghi là cụ Nguyễn Thị L2, hiện vẫn còn sống), ông Tường Phi T1, ông Tường Phi T2, ông Tường Phi T3, ông Tường Phi S, ông Tường Phi M, ông Tường Phi B, ông Tường Phi T1 (là các cháu của cụ L, cụ C3). Sau khi cụ L, cụ C3 lập giấy chia đất và tài sản năm 1999, ông Q và ông C đã phân chia trên thực tế. Năm 2000, ông Tường Phi C đã ngăn chia ranh giới đất giữa hai anh em và xây nhà trên đất. Sau đó 01 năm, năm 2001, ông Q và bà N xây 01 nhà mái bằng khoảng 50m2 và sau đó xây khoảng 30 m2 gồm sân, khu vệ sinh, 10m2 bếp. Đến năm 2003, Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Q (do ông Q và ông C thỏa thuận để ông Q đại diện đứng tên cho hai anh em). Ông Q không nhập quyền sử dụng đất này vào tài sản chung vợ chồng nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên riêng ông Q, là tài sản riêng của ông Q và ông C.

Không có sự việc cụ L đến gặp ông Q và bà N, đưa sổ đỏ cho ông Q và nói cho ông và bà N toàn bộ nhà đất như bà N đã khai vì nhà ông có 05 anh em trai, ông và ông C đều chưa có đất ở nên bố mẹ ông đã tặng cho riêng ông và ông C đất. Sổ đỏ không phải do cụ L đi làm mà sau khi hai cụ lập giấy chia đất và tài sản năm 1999 thì năm 2003 ông và ông C mới đi làm sổ đỏ. Hai anh em thỏa thuận để ông Q đứng tên toàn bộ sổ đỏ để tiện liên hệ với các cơ quan. Sau khi bố mẹ cho đất, hai anh em đã phân chia trên thực tế đúng theo giấy phân chia của bố mẹ về diện tích, ranh giới, vị trí ghi trong Giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999.

Ông Q có yêu cầu phản tố: yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của ông và ông C theo hợp đồng tặng cho của bố mẹ ông là cụ Tường Phi L và cụ Nguyễn Thị C3 đã tặng cho riêng ông và ông Tường Phi C theo “Giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999. Việc phân chia thửa đất do ông và ông C tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với nhà và tài sản trên đất do ông Q đang quản lý nằm phía bên trong gồm 01 nhà cấp 4 mái bằng, 01 nhà vệ sinh, 01 phòng bếp, sân, cổng: ông Q xác định là tài sản chung vợ chồng, thời điểm xây nhà năm 2001 tiền xây dựng khoảng 40 triệu đồng, công sức xây nhà, lát sân do ông và các anh em trai trong nhà tự làm vì ông là thợ xây và vay thêm tiền của anh em bên nội. Thời điểm từ năm 1999 đến năm 2001, bà N bán hàng rong ngoài chợ, sử dụng xe đạp để chở trứng và một số đồ nhựa gia dụng đi bán rong phía trước mặt đường các chợ, thu nhập rất ít, thu nhập chính trong gia đình do ông kiếm tiền từ nghề thợ xây. Vì vậy ông đề nghị chia cho ông được hưởng 80% giá trị, bà N được hưởng 20% giá trị công sức xây nhà và tài sản trên đất, sau đó ông Q đề nghị mỗi ông bà hưởng 50% giá trị công sức xây nhà và công trình trên đất.

Đối với việc bà N yêu cầu được hưởng bằng hiện vật là đất, nhà, tài sản trên đất: ông Q không đồng ý vì đất là tài sản riêng của ông và ông C, nhà và tài sản trên đất do ông và bà N cùng có công xây dựng, nhưng từ khi ly hôn, bà N đã chuyển đi nơi khác, một mình ông nuôi hai con khôn lớn, hiện nay ông cũng đã lập vợ mới, ông cần có nhà ở để đảm bảo cho gia đình có chỗ ở và thờ cúng bố mẹ, ông đề nghị được hưởng bằng hiện vật và thanh toán giá trị nhà ở và tài sản trên đất cho bà N.

- Đối với khoản nợ Ngân hàng N5 - chi nhánh H5 theo hợp đồng tín dụng ký kết ngày 23/6/2011: mặc dù là khoản nợ chung của hai vợ chồng nhưng bà N không trả nợ, một mình ông phải đứng ra trả nợ ngân hàng gồm tiền gốc 2.000.000.000 đ (Hai tỷ đồng), lãi trong hạn từ năm 2011 đến năm 2014, lãi quá hạn, lãi chậm trả từ năm 2014 đến năm 2023 khoảng 5 tỷ đồng, tổng gốc lãi ông đã trả ngân hàng khoảng 07 tỷ đồng. Bà N không trả nợ ngân hàng nào. Hiện nay một mình ông đã tất toán toàn bộ khoản nợ và Ngân hàng đã giải chấp tài sản thế chấp là thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, phường P nêu trên và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông. Ông phải đi vay lãi ngoài để trả nợ cho ngân hàng để lấy sổ đỏ ra cho anh C phần của anh C. Ông đồng ý yêu cầu của bà N chia đôi khoản nợ, yêu cầu bà N trả lại cho ông số tiền 3, 5 tỷ đồng mà ông đã trả cho Ngân hàng trong tổng số 07 tỷ đồng.

Nay, bà N xin rút yêu cầu chia khoản nợ, ông cũng đồng ý.

- Đối với yêu cầu của bà N đề nghị xem xét công sức làm dâu, công sức tôn tạo, trông nom nhà đất, ông Q không đồng ý vì lý do: thời gian ông bà ở cùng bố mẹ chồng, bà N luôn hỗn láo với bố mẹ chồng, chửi bố mẹ chồng, không chăm sóc bố mẹ chồng, bố mẹ chồng coi bà N là con dâu nên mới tặng cho riêng ông đất, vì vậy bà N không có công sức làm dâu. Khi ông bà ly hôn, bà N ở nơi khác, một mình ông nuôi hai con cho đến nay, khoản nợ ngân hàng 7 tỷ đồng gốc và lãi, ông phải đi vay lãi ngoài để trả nợ ngân hàng, hiện nay ông đang phải trả nợ vay lãi ngoài, bà N không trả nợ đồng nào, không có trách nhiệm gì. Khi bố mẹ cho ông đất thì đất đã là đất ở, không phải công tạo gì, bà N không có công sức tôn tạo gì, vợ chồng phá nhà cũ xây nhà mới thì ông đã đóng ý thanh toán công sức xây dựng nhà và công trình trên đất cho bà N.

- Ngoài ra, ông Q không có yêu cầu, ý kiến gì khác.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Tường Phi Q là ông Đào Cư T có ý kiến thống nhất như ông Q.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập - ông Tường Phi C khai thống nhất với lời khai của ông Q. Ông Tường Phi C có yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của ông Q và ông C theo hợp đồng tặng cho của bố mẹ ông là cụ Tường Phi L và cụ Nguyễn Thị C3 đã tặng cho riêng ông và ông Tường Phi Q theo “Giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999”.

Việc phân chia thửa đất do ông và ông Q tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với khối nhà xây dựng bên ngoài là tài sản riêng của vợ chồng ông.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Ngân hàng N5 - Chi nhánh H5 do bà Đồng Thị Hạnh N3 là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 29/12/2023, ông Tường Phi Q đã tất toán toàn bộ khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 2200/LAV-201101738 ngày 23/6/2011. Ngân hàng đã giải chấp tài sản cho ông Q, đã trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q. Hiện nay, Ngân hàng không có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gì, đề nghị Tòa án không đưa ngân hàng vào tham gia tố tụng, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ngân hàng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị N1 (vợ ông C), chị Tường Thị Hồng D, chị Tường Thị Vân A, chị Tường Thị H1, anh Tường Phi C1 (là các con của ông C và bà N1) trình bày: thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 tại phường P, quận H, Hà Nội (trước đây là thôn V, xã P, H) là do cụ L và cụ C3 tặng cho riêng ông Tường Phi Q và ông Tường Phi C, bà N1 và các con không có liên quan gì, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Bùi Thị H2 (vợ ông Tường Phi Q) trình bày: bà và ông Tường Phi Q kết hôn năm 2023, việc tranh chấp nhà đất tại thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 tại phường P, quận H, Hà Nội, bà không có liên quan gì, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Tường Phi C2, chị Tường Thị N2 (là các con của ông Q và bà N) trình bày: tài sản tranh chấp giữa bố mẹ anh chị là tài sản chung của bố mẹ anh chị, anh chị không có công sức hay đóng góp gì, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã lấy lời khai những người làm chứng, người cao tuổi tại địa phương, đại diện tổ dân phố D phường P, cụ thể như sau:

*Người làm chứng: ông Tường Phi T1, ông Tường Phi H3, ông Tường Phi T2, ông Tường Phi B, ông Nguyễn Thị C3 trình bày:

“Ngày 15/6/1999, bà Nguyễn Thị C3 và ông T4 Phi Loan có mời chúng tôi đến làm chứng việc ông L, bà C3 tặng cho đất cho hai con trai là anh Tường Phi Q và anh Tường Phi C. Việc lập văn bản tại nhà đất hiện nay là số nhà E tổ D V, P, H. Ông L và bà C3 có trao đổi với những người làm chứng nội dung như trong “Giấy chia đất và tài sản” ngày 15/6/1999 tặng cho riêng anh Tường Phi Q và anh Tường Phi C. Việc chia diện tích đất cụ thể cho anh Q và anh C được thể hiện đúng như trong “Giấy chia đất và tài sản” nêu trên. Chúng tôi đã làm chứng cho ông Tường Phi Q, ông Tường Phi C và ký tên vào “Giấy chia đất và tài sản” ngày 15/6/1999”

*Cụ Bùi Thế T5, sinh năm 1936, là người cao tuổi sinh sống tại tổ D V, P, trình bày:

“Tôi là em rể của bà Nguyễn Thị C3 và ông Tường Phi L. Ngày 15/6 /1999 tôi được ông L và bà C3 nhờ viết hộ giấy chia đất và tài sản. Sau khi tôi viết hộ bằng bản viết tay thì ông L và bà C3 mới mang đi đánh máy. Bản đánh máy đã được tôi ký tên vào phần “người viết văn bản”. Tôi chỉ kí, không ghi họ tên. Tôi công nhận có sự việc ông L và bà C3 chia đất thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2, P, chia cho hai con trai là anh Tường Phi Q và anh Tường Phi C là đúng. Nội dung về việc chia đất của anh Q và anh C đã được thể hiện rõ trong “Giấy chia đất và tài sản” lập ngày 15/6/1999.”

*Ông Tường Phi T1 là người làm chứng ký tên “Giấy chia đất và tài sản” ngày 15/6/1999, hiện nay là tổ phó tổ dân phố số 4, trình bày:

“Theo tôi biết nguồn gốc nhà đất thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 tại phường P, quận H, Hà Nội trước đây là của ông Tường Phi L và bà Nguyễn Thị C3 mua của ông Tường Phi T6, địa chỉ: tổ D, V, P, hiện nay ông T6 đã mất. Sau khi mua, ông L và bà C3 xây nhà trên đất để ở cùng các con. Đến năm 1999, ông L và bà C3 lập văn bản chia đất, tặng cho riêng anh Tường Phi Q và anh Tường Phi C. Lúc đó tôi biết sự việc tặng cho đất vì tôi cũng được mời là người làm chứng, ký tên vào văn bản tặng cho. Tài sản chia đất đã nêu rõ ông L và bà C3 tặng cho riêng anh Tường Phi C 03 gian nhà phía Bắc chạy thẳng đến giáp đất nhà anh Tường Phi S, tặng cho riêng anh Tường Phi Q 02 gian nhà về phía nam chạy thẳng đến giáp đất nhà ông Tường Phi V1. Bố mẹ sử dụng chung, ngõ đi sử dụng chung. Tại buổi chia đất, ý nguyện của ông L và bà C3 đã nêu rõ chỉ tặng cho 02 con trai là anh Tường Phi Q và anh Tường Phi C. Hiện nay anh Q và anh C đã tự phân chia trên thực tế, có ranh giới phân chia giữa hai anh em không tranh chấp gì về việc phân chia nhà đất. Đối với yêu cầu của chị N, vợ cũ của anh Q yêu cầu chia đất nêu trên, tờ dân phố có ý kiến, chị N không có liên quan gì vì thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 V, P, nay là tổ dân phố số 4 là đất của bố mẹ anh Q là ông L, bà C3 đã tặng cho riêng hai con trai là anh Q và anh C.”

*Ông Nguyễn Xuân T7- tổ trưởng tổ dân phố 4 trình bày:

“Theo tôi được biết, ngày 15/6/1999, bà Nguyễn Thị C3 và ông Tường Phi L đã tặng cho thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 hiện nay là số nhà E tổ D V, P, H cho riêng ông Q và anh Tường Phi C. Anh em không tranh chấp, nhà trên đất ở đến hiện nay, giữa hai anh em không có tranh chấp. Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của gia đình anh Q, gia đình anh C và những người làm chứng”.

Tại biên bản xác minh ngày 22/5/2024 tại Công an phường P thể hiện: tại nhà đất số E tổ D Văn Nội P, H, Hà Nội hiện nay có 2 gia đình đang sinh sống

gồm: ông Tường Phi Q, bà Bùi Thị H2 (vợ ông Q), ông Tường Phi C, bà Nguyễn Thị N1 (vợ ông C), chị Tường Thị Hồng D, chị Tường Thị Vân A, chị Tường Thị H1, anh Tường Phi C1 (là các con của ông C và bà N1). Ngoài ra, tại nhà đất nêu trên, không có ai khác sinh sống và ở đó.

Biên bản xác minh ngày 08/5/2024 tại Ủy ban nhân dân phường P thể hiện:

“Theo bản đồ số mục kê năm 1997 thì thửa đất 138 tờ 4 diện tích 195 m2 (nay là tổ D Văn Nội P) đứng tên ông Tường Phi L.

-Ngày 27/8/2003, Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp GCNQSDĐ thửa đất số 138 tờ 4 diện tích 195 m2 cho anh Tường Phi Q.

-UBND phường không lưu trữ hồ sơ cấp GCNQSDĐ.

-Việc biến động thửa đất đề nghị liên hệ chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai theo thẩm quyền”

Biên bản xác minh ngày 07/8/2024 tại Ủy ban nhân dân phường P thể hiện:

-Đối với nhà đất thửa đất 138 tờ 4 diện tích 195 m2 hiện nay là số 52 tổ D Văn Nội P do ông Tường Phi Q và ông Tường Phi C đang quản lý, UBND phường chỉ nhận được đơn của bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp chia tài sản chung, ngoài đơn của bà N4 nhận được đơn thư nào khác về tranh chấp các hộ liên kề.

-Tại Biên bản xác minh ngày 18/6/2024, Phòng Tài nguyên Môi trường UBND quận H có ý kiến: đối với việc Tòa án nhân dân quận Hà Đông đề nghị cung cấp hồ sơ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P602329 tờ bản đồ số 4 thửa 138 đứng tên ông Tường Phi Q:

“Phòng Tài Nguyên Môi trường quận H đã cung cấp hồ sơ tài liệu liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên bao gồm: Quyết định số 566/QĐ-UB ngày 27/8/2003 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T. Danh sách các hộ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định 566 trong đó có thửa đất số 138 đứng tên ông Tường Phi Q.

-Về biến động: đề nghị Tòa án liên hệ chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận H.”

-Tại công văn số 219/PCC-HĐO ngày 08/5/2024 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận H cung cấp hồ sơ biến động thửa đất 138 tờ 4 diện tích 195 m2 hiện nay là số 52 tổ D Văn Nội P như sau:

+Giấy chứng nhận số P602320 tờ bản đồ số 4 thửa 138 đứng tên ông Tường Phi Q do UBND huyện T cấp ngày 27/8/2003.

+Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 10114/quyển 7TP/CC-SCC/HĐTC do Văn phòng C5 lập ngày 22/6/2011.

+Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp QSD đất, tài sản gắn liền với đất ngày 17/6/2011.

+Thông báo giải chấp số 02/TBGC-NHN5 ngày 05/2/2024 của Ngân hàng N5- chi nhánh H5.

Tại Biên Bản xem xét thẩm định và Biên bản định giá tài sản ngày 19/7/2024 đối với giá trị quyền sử dụng đất, tài sản và công trình xây dựng trên đất tại thửa đất 138 tờ 4 diện tích 195 m2 hiện nay là số 52 tổ D Văn Nội P, H thể hiện:

  1. Đối với giá trị quyền sử dụng đất:
    • -Giá trị quyền sử dụng đất: 45.000.000đ/1m2 (Bốn mươi lăm triệu đồng/1m2).
    • -Diện tích đo đạc thực tế: 199,3m2.
    • -Giá trị toàn bộ thửa đất: 45.000.000đ/1m2 x199,3m2=8.968.500.000 đồng.
  2. Đối với tài sản và công trình xây dựng trên đất:
    • -Công ngõ đi chung xây dựng năm 2000 gồm:
      • +Cổng ngõ mặt đường V có khung, cổng sắt, kích thước 2mx1,6m=3,2m2, đơn giá: 269.000đ/m2, tỷ lệ khấu hao: 10%,
      • Trị giá: 269.000đ x 3,2m2 x 10% = 86.080 đồng.
      • +01 ngõ đi chung lát gạch đá hoa: diện tích 20,1m2, gồm có mặt ngõ lát gạch, khung cổng sắt, bên trên ngõ có lợp mái tôn, bà N không có tranh chấp, không có yêu cầu gì nên không xem xét.
      • Trị giá: 229.000đ/m2 x 20,1m2 x 10% = 460.290 đồng.
      • +Phần mái tôn lợp trên ngõ đi chung: kích thước khoảng 2,5m x 8,1m =20,25m2, đơn giá: 250.000đ/1m2, tỷ lệ khấu hao: 10%.
      • Trị giá: 250.000đ x 20,25m2 x 10% = 506.250 đồng.
    • 2.2) Khối nhà, tài sản trên đất do anh Tường Phi C quản lý, xây dựng năm 2000, tổng diện tích: 92,1m2 gồm:
      • +01 cửa sắt vào nhà: kích thước 1,3 x 2,5 = 3,25m2, đơn giá: 269.000đ/m2, tỷ lệ khấu hao: 10%
      • Trị giá: 269.000đ x 3,25m2 x 10% = 87.451 đồng.
      • +01 sân trước nhà lát gạch đỏ: kích thước 2,8 x 3,5 = 9,8m2, đơn giá: 290.000đ/m2, tỷ lệ khấu hao: 10%
      • Trị giá: 290.000đ x 9,8 x 10% = 284.200 đồng.
      • +01 gian nhà bếp và công trình phụ khép kín, có 01 cầu thang sắt đi lên, phía trên có gác xép: diện tích 18,9m2, đơn giá: 2.239.000đ/m2, tỷ lệ khấu hao còn lại: 10%.
      • Trị giá: 2.239.000đ x 18,9 x 10% = 4.231.710 đồng.
      • +01 nhà xây đô bê tông kiên cố 02 tầng (tầng 1 gồm 01 phòng khách và 02 phòng ngủ; 01 cầu thang lát đá granit đi lên, tầng 2 gồm 03 phòng ngủ và 01

nhà vệ sinh): diện tích 37,7m2/1 tầng, đơn giá: 6.163.000đồng/m2, tỷ lệ khấu hao còn lại: 10%.

Trị giá: 6.613.000đ x 37,7 x 10% = 23.234.510 đồng.

+01 phòng đua ra phía trên, sàn lát gỗ công nghiệp, trần nhựa để sử dụng làm phòng học: diện tích 2,8 x 3,5 = 9,8m2, đơn giá: 1.087.000đồng/m2, tỷ lệ khấu hao còn lại: 10%.

Trị giá: 1.087.000đ x 09,8 x 10% = 1.065.260 đồng.

+01 sân đua ra phía trên không gian ngõ đi chung, sân sắt mái tôn sử dụng làm chỗ phơi quần áo: kích thước 2,2 x 3,5 = 7,7m2, đơn giá: 250.000đ/1m2, tỷ lệ khấu hao: 10%

Trị giá: 250.000đ x 7,7 x 10% = 192.500 đồng.

2.3. Khối nhà, tài sản trên đất anh Tường Phi Q đang quản lý và sử dụng có diện tích 87, 1m2, xây dựng khoảng thời điểm năm 2000, 2001 gồm:

  • +01 cổng vách liền khung sắt ốp tôn: kích thước 2,2 x 1,6 = 3,52m2, đơn giá: 250.000đ/1m2, tỷ lệ khấu hao: 10%
  • Trị giá: 250.000đ x 3,52x 10% = 88.000 đồng.
  • +01 sân lát gạch đỏ có lợp mái tôn và trần nhựa: diện tích 224,2m2, đơn giá: 290.000đồng/m2, tỷ lệ khấu hao còn lại: 10%.
  • Trị giá: 290.000đ x 24,2 x 10% = 701.800 đồng.
  • +01 nhà cấp 4 mái bằng lợp proximăng có tum (gồm 01 phòng khách, 01 phòng ngủ, 01 nhà vệ sinh, 01 phòng bếp): diện tích 62,9m2, đơn giá: 2.239.000đồng/m2, tỷ lệ khấu hao còn lại: 10%.
  • Trị giá: 2.239.000đ x 62,9 x 10% = 14.080.310 đồng.

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà N phát biểu quan điểm: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, thửa đất 138 tờ bản đồ 4 Văn Nội P là tài sản chung vợ chồng của bà N và ông Q vì lý do mặc dù ông Q được ông L bà C3 tặng cho riêng đất nhưng ông Q đã đồng ý chuyển thành tài sản chung vợ chồng vì năm 2011, hai vợ chồng đã cùng ký hợp đồng thế chấp thửa đất nêu trên cho Ngân hàng để vay tiền. Đối với giấy chia đất ngày 15/6/1999, chữ ký của người làm chứng là cụ T5 không giống với chữ ký cụ T5 tại biên bản xác minh ngày 22/5/2024, ông T4 Phi Thu là cháu của ông L, bà C3 - là người làm chứng trong giấy chia đất năm 1999 nhưng lại xác nhận văn bản của những người làm chứng khác khi tòa án đi xác minh là không khách quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

-Thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là phường P, quận H, thành phố Hà Nội). UBND phường P, quận H, TP . Hà Nội xác nhận: Năm 2003, UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Tường Phi Q. Tại sổ mục kê kiểm thống kê đất đai năm 1997 thể hiện: thửa đất 138, tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2, P, chia cho hai con trai là anh Tường Phi Q và anh Tường Phi L. Ngày 18/6/2024, Phòng Tài nguyên và môi trường quận H cung cấp tài liệu về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là phường P, quận H, thành phố Hà Nội) do UBND huyện T cấp ngày 27/8/2003 cho ông Tường Phi Q và bà Nguyễn Thị N chia cho anh Tường Phi Q và anh Tường Phi C. Nguồn gốc thửa đất này là ông Tường Phi L và bà Nguyễn Thị C3 chia cho anh Tường Phi Q và anh Tường Phi C. Do vậy, Quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên là tài sản riêng của anh Q, không phải là tài sản chung vợ chồng nên sau khi ly hôn tài sản này là của anh Q.

- Đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn:

Tài sản chung của vợ chồng anh Q, chị N là giá trị xây dựng nhà đất và tài sản trên đất:14.873.110 đồng. Nên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung vợ chồng của chị N về việc chia tài sản chung vợ chồng là giá trị xây dựng 14.873.110 đồng theo quy định pháp luật và trích 1 phần công sức đóng góp của chị N. Giao anh Q được hưởng hiện vật, anh Q có nghĩa vụ thanh toán 2/3 giá trị nhà tương đương với số tiền 10.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu khác của chị N.

- Đối với yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của anh Tường Phi Q, anh Tường Phi C:

Xét thấy: Ngày 15/6/1999, bà Nguyễn Thị C3 và ông Tường Phi L đã tặng cho anh Q và anh Tường Phi C thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là phường P, quận H, thành phố Hà Nội) theo Giấy chia đất và tài sản. Việc phân chia đất của ông L, bà C3 cho các con trai là anh Q, anh C là có thật, việc tặng cho quyền sử dụng đất của ông L, bà C3 là người làm chứng trong giấy chia đất năm 1999 nhưng lại xác nhận văn bản của những người làm chứng khác khi tòa án đi xác minh là không khách quan. Do vậy, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho anh Q và anh C không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có giá trị pháp lý. Hơn nữa, sau khi được bố mẹ phân chia đất anh Q và anh C đã tự thống nhất thỏa thuận phân chia và xây dựng nhà ở ổn định đến nay không có tranh chấp gì. Do vậy, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có giá trị pháp lý đối với các bên theo quy định tại Điều 121, 122, 123, 124, Điều 389, Điều 465, Điều 467 Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị Quyết 02/2004

của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về tranh chấp liên quan đến các lập quyền sử dụng đất, hôn nhân gia đình. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Tường Phi Q và yêu cầu độc lập của anh Tường Phi C về việc công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo Giấy chia đất và tài sản” lập ngày 15/6/1999.

Đề nghị:

-Chấp nhận một phần yêu cầu của chị N về việc chia tài sản chung vợ chồng. Giao anh Tường Phi Q được sở hữu, sử dụng nhà đất thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, phường P, quận H, thành phố Hà Nội (mốc giới thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh Tường Phi Q). Buộc anh Tường Phi Q thanh toán cho chị Nguyễn Thị N số tiền 10.000.000 đồng.

-Chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Tường Phi Q, yêu cầu độc lập của anh Tường Phi C về việc công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, thôn V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội mà ông Tường Phi L và bà Nguyễn Thị C3 đã tặng cho anh Q và anh C theo Giấy chia đất và tài sản lập ngày 15/6/1999.

-Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, lời khai của các đương sự, người làm chứng, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập, thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[I] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn với ông Tường Phi Q, việc chia tài sản chung chưa được giải quyết tại bản án ly hôn số 45/2019/HNGĐ-ST ngày 28/8/2019 của Toà án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội. Địa chỉ nơi cư trú của ông Tường Phi Q: số nhà E tổ D V phường P, quận H, TP Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý, giải quyết vụ án theo thẩm quyền theo loại việc, theo cấp toà án và theo lãnh thổ quy định tại khoản 1, điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[II] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có mặt;

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đã có ý kiến về việc giải quyết vụ án, có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[III] Về nội dung vụ án:

1.Về nguồn gốc thửa đất: lời khai thống nhất của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, chính quyền địa phương, theo tài liệu chứng cứ là “Giấy bản đất và nhà” ngày 06/5/1965 ký kết giữa cụ Tường Phi L (người mua) và cụ Tường Phi T6 (người bán) có xác nhận của UBND xã P thì nguồn gốc thửa đất 138 tờ bản đồ 4 hiện nay là số nhà E, tổ D, V, phường P, quận H, Hà Nội là của cụ T4 Phi Loan mua của cụ T4 Phi Tùng từ năm 1965, đây là tài sản chung vợ chồng của cụ Tường Phi L và cụ Nguyễn Thị C3 theo Điều 15 Luật hôn nhân gia đình năm 1959.

2. Về quyền sở hữu, sử dụng thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, phường P:

-Xét yêu cầu khởi kiện của bà N:

Ông Tường Phi Q và bà Nguyễn Thị N kết hôn năm 1996 và ly hôn năm 2019. Bà N cho rằng thửa đất số 138 tờ bản đồ 4 hiện nay là số nhà E, tổ D, V phường P, quận H, Hà Nội là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân vì lý do bố mẹ chồng bà là cụ Tường Phi L và cụ Nguyễn Thị C3 đã tặng cho toàn bộ thửa đất cho ông Q và bà N năm 2003. Việc tặng cho do một mình bố chồng là cụ L cho bằng miệng, không có mặt mẹ chồng là cụ C3. Tuy nhiên, bị đơn - ông Q phản đối lời khai của bà N, ông Q xác định thửa đất nêu trên không phải là tài sản chung vợ chồng của ông Q và bà N mà là tài sản riêng của ông Q và ông C vì ông Q và ông C được cụ L và cụ C3 tặng cho năm 1999 theo giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999. Ngoài lời khai của bà N, không có văn bản, không có người làm chứng, không có tài liệu chứng cứ gì khác chứng minh có sự việc cụ L và cụ C3 tặng cho vợ chồng ông Q bà N thửa đất năm 2003. Bà N cũng xác định bà không có văn bản, tài liệu, chứng cứ gì chứng minh sự việc trên. Bà N cũng không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên riêng ông Q. Không có văn bản thỏa thuận nào giữa ông Q và bà N ghi nhận ông Q nhập quyền sử dụng đất nêu trên vào tài sản chung vợ chồng.

-Hồ sơ, tài liệu về đất đai thể hiện:

  • “Giấy bản đất và nhà” ngày 06/5/1965 ký kết giữa cụ Tường Phi L (người mua) và cụ Tường Phi T6 (người bán) có xác nhận của UBND xã P.
  • Bản đồ và sổ mục kê năm 1997 thửa 138 tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 V, P đứng tên cụ Tường Phi L (bố ông Q).
  • Giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999 tặng cho ông Q và ông C có chữ ký của cụ L, cụ C3, chữ ký của ông Q, ông C, chữ ký của những người làm chứng: cụ Tường Phi V1 (là anh trai cụ Tường Phi L), cụ Nguyễn Thị Đ1 (là chị dâu của cụ L - hiện đã mất), cụ Tường Thị L1 - em gái của cụ L, trong giấy chia đất ghi là cụ Nguyễn Thị L2, hiện vẫn còn sống), ông Tường Phi T1, ông Tường

Phi T2, ông Tường Phi T3, ông Tường Phi S, ông Tường Phi M, ông Tường Phi B, ông Tường Phi T1 (là các cháu của cụ L, cụ C3).

  • +Quyết định số 566/QĐ-UB ngày 27/8/2003 của UBND huyện T về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và danh sách kèm theo thể hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng đất ông Tường Phi Q, thửa đất 138 tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 tại xã P, T (nay là P, H).
  • +Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P602329 do UBND huyện T cấp ngày 27/8/2003 đứng tên ông Tường Phi Q là chủ sử dụng đất thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 V, P.

Bà N không thừa nhận ông Q và ông C được tặng cho riêng nhà đất theo giấy chia phân chia đất và tài sản ngày 15/6/1999 nhưng không có tài liệu chứng cứ để chứng minh.

Do đó, không có căn cứ xác định thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 tại phường P, quận H, Hà Nội là tài sản chung vợ chồng của ông Q, bà N được cụ L, cụ C3 tặng cho chung năm 2003. Đây không thuộc trường hợp bố mẹ chồng tặng cho nhà đất cho vợ chồng theo án lệ số 03/2016/AL ngày 06/4/2016 của Tòa án nhân dân tối cao.

Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.

-Xét yêu cầu phản tố của ông Tường Phi Q và yêu cầu độc lập của ông Tường Phi C:

Giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999 có nội dung là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng nhà đất được lập thành văn bản. Giấy phân chia đất và tài sản có mặt cụ L, cụ C3 là người có quyền sở hữu, sử dụng nhà đất, có mặt ông Q, ông C là hai con trai được tặng cho nhà đất, có mặt những người làm chứng gồm có: cụ Tường Phi V1 (là anh trai cụ Tường Phi L), cụ Nguyễn Thị Đ1 (là chị dâu của cụ L - hiện đã mất), cụ Tường Thị L1 - em gái của cụ L, trong giấy chia đất ghi là cụ Nguyễn Thị L2, hiện vẫn còn sống), ông Tường Phi T1, ông Tường Phi T2, ông Tường Phi T3, ông Tường Phi S, ông Tường Phi M, ông Tường Phi B, ông Tường Phi T1 (là các cháu của cụ L, cụ C3). Theo nội dung giấy phân chia đất và tài sản, lời khai thống nhất của ông Q, ông C, lời khai của những người làm chứng, theo ý kiến của tổ dân phố, ý kiến của người cao tuổi tại địa phương đồng thời là người làm chứng là cụ Nguyễn Thế T8 thì:

Ngày 15/6/1999, cụ L và cụ C3 đã lập Giấy chia đất và tài sản để tặng cho nhà đất cho hai con trai là ông Tường Phi Q và ông Tường Phi C. Nội dung tặng cho cụ thể như sau: Miếng đất hình chữ nhật phía đông giáp nhà anh Bùi Thế H4, tây giáp ngõ đi nhà ông Tường Phi V1, nam giáp nhà ông Tường Phi V, bắc giáp nhà anh Tường Phi S và các ngõ của gia đình chạy thẳng ra ngõ chính. Chia miếng đất là năm gian nhà cấp bốn và một bể gạch hai ngăn phân chia như sau: cắt đôi miếng đất chạy thẳng từ hậu nhà đến giáp đất nhà anh

Bùi Thế H4. Anh Tường Phi C được hưởng 3 gian nhà phía Bắc chạy thẳng đến giáp đất nhà Tường P, anh Tường Phi Q được hưởng 2 gian nhà về phía nam chạy thẳng đến giáp đất nhà ông Tường Phi V1, bể sử dụng chung ngõ đi sử dụng chung.

Sau khi các cụ tặng cho nhà đất năm 1999, Ông Q và ông C đã phân chia ranh giới, phá nhà cũ và xây dựng nhà mới. Ông Q và bà N xây nhà và công trình trên đất theo vị trí phân chia cho ông Q bên trong thửa đất. Vợ chồng ông C xây nhà và công trình trên đất theo vị trí phân chia cho ông C bên ngoài thửa đất. Ông Q và ông C vẫn quản lý, sử dụng nhà đất từ thời điểm được tặng cho đến nay.

Hiện trạng, hình thể, ranh giới với các hộ liền kề, vị trí phân chia đất được tặng cho và phân chia giữa ông Q và ông C Tòa án tiến hành xem xét thẩm định đúng với hiện trạng, ranh giới, vị trí mà cụ L và cụ C3 đã tặng cho, phân chia cho ông Q và ông C tại giấy chia đất và tài sản lập ngày 15/6/1999 không có gì thay đổi.

Như vậy, việc dịch chuyển quyền sở hữu, sử dụng nhà đất thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 V, P từ cụ Tường Phi L và cụ Nguyễn Thị C3 sang anh Tường Phi Q và anh Tường Phi C được lập hợp đồng tặng cho bằng văn bản là giấy phân chia đất và tài sản ngày 15/6/1999, hợp đồng tặng cho không có công chứng, chứng thực nhưng do chính cụ L và cụ C3 có mặt ký tên và có nhiều người làm chứng. Những người làm chứng đều không phải là người thừa kế theo di chúc, không phải người thừa kế theo pháp luật của cụ L, cụ C3, không có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến tài sản của gia đình cụ L, cụ C3 nên việc làm chứng là khách quan. Thời điểm tặng cho năm 1999, thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có nguồn gốc hợp pháp là tài sản chung vợ chồng của cụ L, cụ C3 và đến năm 2003, thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên người được tặng cho là ông Tường Phi Q - đại diện cho ông Q và ông C. Sau khi được tặng cho, ông Q và ông C đã nhận nhà đất, phân chia nhà đất theo đúng ranh giới, vị trí, hình thể được phân chia tại giấy phân chia đất và tài sản ngày 15/6/1999, giữa hai anh em không có tranh chấp, đã xây dựng nhà trên đất ở đến hiện nay. Vì vậy hợp đồng tặng cho là hợp pháp theo Điều 463 Bộ luật dân sự năm 1995, điểm b.2 khoản 2.3. Điều 2 Mục II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về tranh chấp liên quan đến xác lập quyền sử dụng đất từ sau ngày 15/10/1993, Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015.

Vì vậy, đủ căn cứ xác định quyền sở hữu, sử dụng thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 V, P thuộc quyền sử hữu sử dụng của ông Tường Phi Q và ông Tường Phi C do được cụ L và cụ C3 tặng cho theo phần năm 1999, trong đó phần được tặng cho của ông Q là do cụ L và cụ C3 tặng cho riêng ông Q

trong thời kỳ hôn nhân. Theo quy định tại điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì đây không phải là tài sản chung vợ chồng giữa ông Q và bà N mà là tài sản riêng của ông Q. Ông Q và bà N tự phân chia thửa đất, không có tranh chấp và không có yêu cầu phân chia thửa đất trong vụ án này.

Vì vậy, đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Q và yêu cầu độc lập của ông C.

Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì số đo diện tích thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 V, P là 195m2. Theo biên bản xem xét thẩm định và bản đồ trích đo thửa đất kèm theo thì số đo thực tế của thửa đất hiện nay là 199,3m2 bao gồm: diện tích đất do ông Q quản lý sử dụng là 92,1m2, diện tích đất do ông Q quản lý sử dụng là 87,1m2, ngõ đi chung giữa hai anh em do ông Q và ông C cùng quản lý sử dụng là 20,1m2. Biên bản xác minh ngày 07/8/2024 tại Ủy ban nhân dân phường P thể hiện nhà đất tại thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 V, P là 195m2 không có tranh chấp ranh giới với các hộ liền kề. Ranh giới thửa đất không có gì thay đổi. Vì vậy, diện tích đất được xác định theo số đo thực tế theo quy định tại khoản 5 Điều 98 Luật đất đai năm 2013, khoản 6 Điều 135 Luật Đất Đai năm 2024.

Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi của bà N xác định ông Q được tặng cho riêng nhà đất nhưng ông Q đã nhập vào tài sản chung vợ chồng vì ly do năm 2011 ông Q và bà N cùng ký vào hợp đồng thế chấp đất nêu trên để vay tiền tại Ngân hàng N5 chi nhánh H5. Thấy rằng: tại thời điểm năm 2011, ông Q và bà N chưa ly hôn, vẫn là vợ chồng, vì vậy ông Q bà N cùng ký vào hợp đồng thế chấp là thủ tục tại ngân hàng khi người có tài sản bảo đảm đang tồn tại hôn nhân, không phải là căn cứ chứng minh thửa đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà N. Đồng thời không có văn bản thỏa thuận nào giữa ông Q và bà N ghi nhận ông Q tự nguyện chuyển quyền sử dụng đất tài sản riêng thành tài sản chung vợ chồng. Hiện nay, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên riêng ông Q.

Ý kiến của Luật sư: bà N cho rằng giấy phân chia đất và tài sản ngày 15/6/1999 là giả nhưng bà N không có tài liệu chứng cứ chứng minh, không có yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký chữ viết của cụ L, cụ C3, anh Q, anh C và những người làm chứng trong giấy chia đất và tài sản.

Ý kiến của Luật sư cho rằng chữ ký của cụ Nguyễn Thế T8 là người làm chứng tại giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999 không giống chữ ký tại biên bản xác minh của tòa án, ông Tường Phi T1 là người làm chứng lại là tổ phó tổ dân phố xác nhận những người làm chứng khác là không khách quan. Xét: tại thời điểm tòa án xác minh, có mặt cụ Nguyễn Thế T8 và nhiều người làm chứng khác là ông Tường Phi H3, ông Tường Phi T2, ông Tường Phi B, ông Tường Phi T3, có mặt ông Tường Phi T1 là người làm chứng tại Giấy chia đất và tài sản

sản ngày 15/6/1999 đồng thời hiện nay là tổ phó tổ dân phố số 4 V, có mặt đại diện Ủy ban nhân dân phường P. Những người làm chứng đều không phải là người thừa kế theo di chúc, không phải người thừa kế theo pháp luật của cụ L, cụ C3, không có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến tài sản của gia đình cụ L, cụ C3 nên việc làm chứng là khách quan. Ông Tường Phi T1 - đại diện tổ dân phố không phải là người thừa kế theo di chúc, không phải người thừa kế theo pháp luật của cụ L, cụ C3, không có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến tài sản nên việc ông T1 đại diện cho tổ dân phố là khách quan, mặt khác ngoài lời khai của ông Nguyễn Xuân T7 - tổ trưởng tổ dân phố. Tòa án cũng tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Xuân T7 - tổ trưởng tổ dân phố. Việc lấy lời khai của Tòa án thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về việc lấy lời khai đương sự, người làm chứng ngoài trụ sở tòa án. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà N.

3.Về nhà và tài sản trên đất:

-Đối với nhà và công trình trên đất xây dựng trên diện tích 92,1m2 (theo biên bản xem xét thẩm định và bản đồ trích đo địa chính kèm theo) do vợ chồng ông Q và bà N cùng quản lý và sử dụng, bà N xác định thuộc sở hữu của ông C, không có tranh chấp, không có yêu cầu gì nên không xem xét:

-Đối với phần tài sản trên ngõ đi chung diện tích 20,1m2 gồm có mặt ngõ lát gạch, khung cổng sắt, bên trên ngõ có lợp mái tôn, bà N không có tranh chấp, không có yêu cầu gì nên không xem xét.

-Đối với nhà và công trình trên đất xây dựng trên diện tích 87,1 m2 (theo biên bản xem xét thẩm định và bản đồ trích đo địa chính kèm theo ngày 19/7/2024) do ông Q hiện đang quản lý sử dụng:

Ông Q và bà N đều xác định nhà và tài sản trên đất gồm 01 nhà cấp 4 mái bằng, 01 nhà vệ sinh, 01 phòng bếp, sân, cổng là tài sản chung vợ chồng, đề nghị chia đôi mỗi người 50% giá trị công sức. Yêu cầu của ông bà là phù hợp theo quy định tại Điều 38, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, xét từ thời điểm ly hôn năm 2019 đến nay bà N đã đi ở nơi khác, ông Q tiếp tục quản lý và sử dụng nhà, tài sản trên đất từ năm 2019 cho đến nay, vì vậy bà N cần được hưởng nhiều hơn giá trị xây dựng nhà và tài sản trên đất. Xét yêu cầu của bà N được hưởng hiện vật, thấy rằng: do thửa đất là của cụ L và cụ C3 cho riêng ông Q ông C, bà N không có quyền sở hữu sử dụng thửa đất nói trên. Hơn nữa bà N hiện nay đang ở chỗ khác, nhà và tài sản trên đất do ông Q và vợ là bà Bùi Thị H2 quản lý sử dụng nên cần tiếp tục giao nhà và tài sản trên đất cho ông Q sử dụng để đảm bảo cho gia đình ông Q có nơi ở và thờ cúng bố mẹ. Ông Q phải thanh toán giá trị xây dựng nhà và tài sản trên đất cho bà N. Giá trị nhà và tài sản trên đất là tài sản chung vợ chồng của ông Q và bà N được định

giá là 14.873.110 đồng. Chia cho ông Q được hưởng 40% giá trị là 5.949.244 đồng, bà N được hưởng 60% giá trị là 8.923. 866 đồng. Ông Q được hưởng hiện vật và phải thanh toán cho bà N số tiền 8.923. 866 đồng.

- Xét yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà N yêu cầu ông Q thanh toán về công sức làm dâu, công sức tôn tạo, trông nom nhà đất tại phiên tòa, thấy rằng:

+Về tố tụng: yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà N tại phiên tòa về công sức làm dâu, công sức tôn tạo, trông nom nhà đất nằm trong phạm vi yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là nhà đất, áp dụng án lệ số 05/2016/AL ngày 06/4/2016 thì yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng lớn hơn yêu cầu xem xét công sức làm dâu và tôn tạo, trông nom đất, tài liệu chứng cứ chứng minh về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung không có gì khác, nên cần được chấp nhận.

+Về nội dung: tại thời điểm cụ L và cụ C3 tặng cho các con đất thì hiện trạng đất là đất ở, vợ chồng ông Q và vợ chồng ông C chỉ phá dỡ nhà cũ, xây dựng nhà mới, công trình phụ trên đất, các đương sự không có lời khai nào thể hiện vợ chồng ông Q và ông C trong việc lát nền nhà và lát sân gạch trong khuôn viên diện tích đất đã được tính vào công sức xây dựng nhà và công trình trên đất cho bà N như đã nêu trên, vì vậy không chấp nhận yêu cầu về công sức tôn tạo đất của bà N.

Bà N và ông Q cùng ở trên phần diện tích đất ông Q được phân chia từ năm 1999 đến năm 2019 nên cùng có công sức trông nom nhà đất này, vì vậy chấp nhận yêu cầu của bà N về xem xét công sức trông nom nhà đất. Tuy nhiên, cả hai ông bà cùng ở trên nhà đất nên cùng có công sức ngang nhau khi trông nom nhà đất nên không phải thanh toán công sức trông nom nhà đất cho nhau.

Bà N cho rằng quá trình bà ở với bố mẹ chồng, bà có thời gian chăm sóc bố chồng khi bố chồng ốm. Ông Q cho rằng bà N hỗn láo, không chăm sóc bố mẹ chồng nên không có công sức chăm sóc bố mẹ chồng, cả hai ông bà đều không có chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình, tuy nhiên xét thời gian kết hôn của ông Q và bà N hơn 20 năm nên buộc ông Q thanh toán cho bà N công sức làm dâu bằng giá trị xây dựng nhà và công trình trên đất mà ông Q được hưởng là 5.949.244 đồng.

-Tổng cộng số tiền ông Q phải thanh toán cho bà N về giá trị nhà, công trình trên đất và công sức làm dâu là 14.873.110 đồng.

-Về yêu cầu chia khoản nợ Ngân hàng của bà N: Hợp đồng tín dụng số 2200/LAV-201101738 ký ngày 23/6/2011 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh H5 – Phòng G ký kết với ông Tường Phi Q, khoản vay: 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng), tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 138, tờ bản đồ số 4, diện tích

195m2 tại phường P, quận H, Hà Nội, bà N trình bày: quá trình làm ăn, vợ chồng đã thế chấp nhà đất nêu trên để vay 20 tỷ đồng, bà yêu cầu được giải quyết khoản nợ theo quy định pháp luật, sau đó bà N có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện chia khoản nợ này với lý do ông Q đã tất toán toàn bộ khoản vay, Ngân hàng đã giải chấp tài sản thế chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q, ông Q đồng ý với việc rút yêu cầu khởi kiện về chia khoản nợ ngân hàng nêu trên. Vì vậy, cần đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện này của bà N.

Về án phí:

-Bà N phải chịu 300.000 đồng án phí DSST không có giá ngạch đối với yêu cầu chia thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, diện tích 195m2 V, P do thửa đất không phải là tài sản của bà N; 446.193 đồng án phí DSST tương ứng với số tiền 8.923. 866 đồng là giá trị công sức xây nhà và công trình trên đất bà N được chia; 300.000 đồng án phí DSST đối với yêu cầu phản tố của ông Q được Tòa án chấp nhận; 300.000 đồng án phí DSST đối với yêu cầu độc lập của ông C được Tòa án chấp nhận.

Tổng cộng, bà Nguyễn Thị N phải chịu 1.346.193 đồng án phí DSST.

-Ông Q phải chịu 300.000 đồng án phí DSST tương ứng với số tiền 5.949.244 đồng là giá trị công sức xây nhà và công trình trên đất ông Q được chia và 300.000 đồng án phí DSST tương ứng với số tiền 5.949.244 đồng ông Q phải thanh toán công sức làm dâu cho bà N; ông Q không phải chịu án phí đối với yêu cầu phản tố do Tòa án chấp nhận.

Tổng cộng ông Q phải chịu 600.000 đồng án phí DSST

-Ông C không phải chịu án phí đối với yêu cầu độc lập do Tòa án chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ:

  • -Khoản 1, điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • -Điều 16 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986; Điều 38, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 463 Bộ luật dân sự năm 1995; điểm b.2 khoản 2.3. Điều 2 Mục II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về tranh chấp liên quan đến xác lập quyền sử dụng đất từ sau ngày 15/10/1993, Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • -Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về chia thửa đất số 138, diện tích 195m2 tờ bản đồ số 4, V, phường P, quận H, TP Hà Nội - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P602329 do UBND huyện T cấp ngày 27/8/2003 đứng tên ông Tường Phi Q (diện tích thực tế là 199,3m2 theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19/7/2024 và Bản đồ trích đo địa chính thửa đất của công ty TNHH V2 kèm theo).
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Tường Phi Q.
  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Tường Phi C.

Cụ thể như sau:

  • -Xác định thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, V, phường P, quận H, TP Hà Nội, diện tích 195 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P602329 do UBND huyện T cấp ngày 27/8/2003 đứng tên ông Tường Phi Q (diện tích thực tế là 199,3m2 theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19/7/2024 và Bản đồ trích đo địa chính thửa đất của công ty TNHH V2 kèm theo) không phải là tài sản chung vợ chồng của ông Tường Phi Q và bà Nguyễn Thị N.
  • -Xác định hợp đồng tặng cho nhà đất của cụ Tường Phi L và cụ Nguyễn Thị C3 - giấy chia đất và tài sản ngày 15/6/1999 tặng cho ông Tường Phi Q và ông Tường Phi C nhà đất tại thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, V phường P, quận H, TP Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P602329 do UBND huyện T cấp ngày 27/8/2003 đứng tên ông Tường Phi Q (diện tích thực tế là 199,3m2 theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19/7/2024 và Bản đồ trích đo địa chính thửa đất của công ty TNHH V2 kèm theo) là hợp pháp.
  • -Xác định thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, V phường P, quận H, TP Hà Nội, diện tích 195 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P602329 do UBND huyện T cấp ngày 27/8/2003 đứng tên ông Tường Phi Q (diện tích thực tế là 199,3m2 theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19/7/2024 và Bản đồ trích đo địa chính thửa đất của công ty TNHH V2 kèm theo) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Tường Phi Q và ông Tường Phi C.
  • -Giao thửa đất thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, V phường P, quận H, TP Hà Nội, diện tích 195 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P602329 do UBND huyện T cấp ngày 27/8/2003 đứng tên ông Tường Phi Q (diện tích thực tế là 199,3m2 theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19/7/2024 và Bản đồ trích đo địa chính thửa đất của công ty TNHH V2 kèm theo) cho ông Tường Phi Q và ông Tường Phi C quản lý, sử dụng. Ông Tường Phi Q và ông Tường Phi C không có tranh chấp, không có yêu cầu về chia quyền sở hữu, sử dụng thửa đất trong vụ án này nên Tòa án không xem xét.
  1. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của bà N về chia giá trị xây dựng nhà và tài sản trên diện tích đất 87,1m2 do ông Tường Phi Q đang quản lý sử dụng.

Cụ thể như sau:

  • -Xác định nhà và tài sản trên diện tích đất 87,1m2 do ông Tường Phi Q đang quản lý sử dụng nằm trong thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, V phường P, quận H, TP Hà Nội gồm 01 nhà cấp 4 mái bằng, 01 nhà vệ sinh, 01 phòng bếp, sân, cổng (theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19/7/2024 và bản đồ trích đo địa chính kèm theo) là tài sản chung vợ chồng của ông Tường Phi Q và bà Nguyễn Thị N. Chia theo giá trị: chia cho ông Tường Phi Q được hưởng 40% giá trị là 5.949.244 đồng, chia cho bà Nguyễn Thị N được hưởng 60% giá trị là 8.923. 866 đồng. Chia theo hiện vật: ông Tường Phi Q được hưởng hiện vật, giao cho ông Tường Phi Q sở hữu và sử dụng nhà và tài sản trên diện tích 87,1m2 đất nêu trên gồm 01 nhà cấp 4 mái bằng, 01 nhà vệ sinh, 01 phòng bếp, sân, cổng (theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19/7/2024 và bản đồ trích đo địa chính kèm theo), ông Tường Phi Q có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị N số tiền 8.923. 866 đồng.
  • -Đối với nhà và tài sản trên diện tích đất 92,1m2 (theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19/7/2024 và bản đồ trích đo địa chính kèm theo) do ông Tường Phi C đang quản lý, sử dụng nằm trong thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, V phường P, quận H, TP Hà Nội, đương sự không có tranh chấp, không có yêu cầu gì nên Tòa án không xem xét.
  • -Đối với tài sản xây dựng trên phần ngõ đi chung diện tích 20,1m2 (theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19/7/2024 và bản đồ trích đo địa chính kèm theo) đương sự không có tranh chấp, không có yêu cầu gì nên Tòa án không xem xét.
  1. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N yêu cầu ông Tường Phi Q thanh toán công sức tôn tạo nhà đất thửa đất số 138 tờ bản đồ số 4, V phường P, quận H, TP Hà Nội.
  2. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về công sức trông nom nhà đất trên diện tích đất 87,1m2 do ông Tường Phi Q đang quản lý sử dụng. Xác định ông Tường Phi Q và bà Nguyễn Thị N có công sức ngang nhau về trông nom nhà đất, Ông Tường Phi Q không phải thanh toán công sức trông nom nhà đất cho bà Nguyễn Thị N.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N về yêu cầu ông Tường Phi Q thanh toán công sức làm dâu. Buộc ông Tường Phi Q thanh toán công sức làm dâu cho bà Nguyễn Thị N bằng phần giá trị xây dựng nhà và tài sản trên đất mà ông Q được hưởng là 5.949.244 đồng.
  4. Đình chỉ giải quyết phần yêu cầu khởi kiện của bà N về việc yêu cầu chia khoản nợ của Ngân hàng A1 – chi nhánh H5 theo Hợp đồng tín dụng số 2200/LAV-201101738 ký ngày 23/6/2011 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh H5 với ông Tường Phi Q

Về án phí:

Bà Nguyễn Thị N phải chịu 1.346.193 đồng án phí DSST, được trừ vào số tiền 20.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí số 0015082 ngày 01/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, bà Nguyễn Thị N được hoàn trả số tiền 18.653.807 đồng.

Ông Tường Phi Q phải chịu 600.000 đồng án phí DSST được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0015244 ngày 08/5/2024, ông Tường Phi Q còn phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí DSST.

Ông Tường Phi C không phải chịu án phí DSST, ông T4 Phi C4 được trả lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0043982 ngày 10/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Ông Tường Phi Q, bà Nguyễn Thị N, ông Tường Phi C có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngân hàng N5, bà Nguyễn Thị N1, chị Tường Thị H1, chị Tường Thị Vân A, chị Tường Thị Hồng D, Anh Tường Phi C1, Anh Tường Phi C2, Chị Tường Thị N2, Bà Bùi Thị H2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- TAND TP Hà Nội;

- VKSND quận Hà Đông, TP Hà Nội;

- VKSND TP Hà Nội;

- Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội;

- Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

23

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 297/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về chia tài sản chung sau ly hôn

  • Số bản án: 297/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: chia tài sản chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nhường-Quân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger